TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 3 - 2025 V/v Ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Minh Trọn.
Ông Nguyễn Minh Sỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Võ Thúy Nhị - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 386/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1989 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Cái Văn L, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18/12/2024, cùng các văn bản kèm theo bà Lê Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Vào tháng 6 năm 2020, bà và ông Cái Văn L thành hôn và chung sống với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau ngày 15/4/2022. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi, bà và ông L đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên bà không thể đoàn tụ gia đình với ông Cái Văn L, nay bà yêu cầu Tòa án xét xử cho bà ly hôn ông Cái Văn L.
Về con chung: Có một người tên là Cái Gia H1 (giới tính nữ), sinh ngày 30/6/2021. Hiện tại con chung đang do bà nuôi dưỡng. Bà yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng người con chung, bà không yêu cầu ông Cái Văn L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, bà Lê Thị H xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.
Ông Cái Văn L đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng ông Cái Văn L vẫn không tham gia tố tụng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, cụ thể về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà Lê Thị H ly hôn với ông Cái Văn L; Về con chung: Có một người tên là Cái Gia H1 (giới tính nữ), sinh ngày 30/6/2021. Hiện tại đang do bà Lê Thị H nuôi dưỡng. Bà Lê Thị H yêu cầu nuôi dưỡng người con chung nên chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H là phù hợp và ông Cái Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Lê Thị H xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
Ông Cái Văn L đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng ông Cái Văn L không cung cấp chứng cứ gì, ông Cái Văn L vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về hôn nhân: Năm 2020, bà Lê Thị H và ông Cái Văn L chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cãi. Bà Lê Thị H xác định không còn tình cảm dành cho ông Cái Văn L và bà Lê Thị Hoa cương Q ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà Lê Thị H và ông Cái Văn L không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa bà Lê Thị H và ông Cái Văn L đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Ông Cái Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, cho thấy ông C Văn Liệt không mong muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình. Đối với yêu cầu của bà Lê Thị H, ông Cái Văn L không có ý kiến gì. Xét cho bà Lê Thị H ly hôn với ông Cái Văn L là có cơ sở.
[3] Về con chung: Có một người tên là Cái Gia H1 (giới tính nữ), sinh ngày 30/6/2021. Hiện tại người con chung đang do bà Lê Thị H nuôi dưỡng. Mặt khác, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu H nên chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H là phù hợp. Bà Lê Thị H không yêu cầu ông Cái Văn L cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên không buộc ông L cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.
[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 28, 35, 39 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị H ly hôn với ông Cái Văn L.
2. Về con chung: Giao Cái Gia H1 (giới tính nữ), sinh ngày 30/6/2021 cho bà Lê Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Cái Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Cái Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng. Bà Lê Thị H đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003680 ngày 18/12/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị H yêu cầu ly hôn Cái Văn L
