|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN TỈNH KIÊN GIANG ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Hoàng Khương
2. Ông Nguyễn Trường Thống
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1985
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng Â, sinh năm 1991
Cùng địa chỉ: ấp K, xã T, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện; biên bản lấy lời khai nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau: Bà và ông Lê Hoàng  chung sống với nhau năm 2013 có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống nhưng không có tiếng nói chung, ông  thường xuyên ăn nhậu, cờ bạc, đá gà, không lo làm ăn nên vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 9/2024 đến nay.
Về con: Vợ chồng có 01 đứa con chung tên Lê Hoàng K, sinh ngày 04/6/2016.
Về tài sản: Vợ chồng không tài sản chung.
Về nợ: Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với ông Lê Hoàng Â.
- Về con: Yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng vì hiện tại bà đang làm thuê tại Công ty TNHH B mỗi tháng 10.000.000 đồng.
- Về tài sản: Không có, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ: Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn ông Lê Hoàng  vắng mặt lần thứ hai, không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với người tham gia tố tụng bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa xét xử;
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những vấn đề cụ thể như sau, về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Kim H ly hôn ông Lê Hoàng Â; về con: giao cháu Lê Hoàng K, sinh ngày 04/6/2016 cho bà H trực tiếp nuôi, ông  không cấp dưỡng nuôi con cùng bà H sau khi vợ chồng ly hôn; về quan hệ tài sản chung và về nợ chung: không có, không tranh chấp nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án và tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn ông Lê Hoàng Â. Sau đó, Tòa án nhân được đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải của nguyên đơn. Như vậy, được xác định đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “.....Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải”.
Vì vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho các đương sự trong vụ án, nhưng bị đơn ông  vắng mặt không lý do nên phải hoãn phiên tòa, đồng thời quyết định hoãn phiên tòa cũng đã được tống đạt hợp lệ cho các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H vắng mặt, nhưng đã có đơn xin vắng, nhưng bị đơn ông  vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn bà H và bị đơn ông  theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim H và ông Lê Hoàng  tự nguyện lấy nhau làm vợ chồng, đủ tuổi, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông  là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại các điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà H thấy rằng: Theo bà H trình bày cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống từ việc ông  tham gia vào các tệ nạn xã hội, dẫn đến vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và ngày càng nhiều không thể khắc phục được và thực tế vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 9 năm 2024 đến nay. Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và cho đến tại phiên tòa hôm nay, ông  không đến Tòa án để trình bày ý kiến, không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như phiên tòa xét xử mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng.
Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông  không khả năng đoàn tụ, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông  theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về quan hệ nuôi con chung: Theo bà H xác định vợ chồng có 01 đứa con chung tên Lê Hoàng K, sinh ngày 04/6/2016 và yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con.
Nội dung này đã được Tòa án nêu rõ trong thông báo thụ lý vụ án và đã tống đạt hợp lệ cho ông Â, nhưng ông  vẫn không có ý kiến phản bác gì đối với ý kiến của bà H nêu ra và cũng không có yêu cầu gì khác. Đồng thời, cháu Lê Hoàng K cũng đã có ý kiến bằng văn bản sau khi cha mẹ (bà H, ông Â) ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống chung với bà H. Hơn nữa, từ khi vợ chồng ly thân đến nay con do bà H là người trực tiếp nuôi; bà H có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên có đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con chung, do đó ông  không phải cấp dưỡng nuôi con cùng bà H. Vì vậy, cần giao cháu Lê Hoàng K, sinh ngày 04/6/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Theo bà H, vợ chồng không tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bà H về tài sản chung và nợ như trên, Tòa án đã nêu trong Thông báo về việc thụ lý vụ án để ông  biết, nhưng đến nay ông  không có ý kiến gì phản bác ý kiến của bà H và cũng không có yêu cầu gì khác. Như vậy, khi Tòa án giải quyết vụ án này thì các đương sự (bà H, ông Â) không có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ, do đó HĐXX không xem xét giải quyết.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Áp dụng Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Kim H ly hôn ông Lê Hoàng Â.
- Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung Lê Hoàng K, sinh ngày 04/6/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng (có đơn trình bày nguyện vọng của con), ông  không cấp dưỡng nuôi con cùng bà H sau khi vợ chồng ly hôn.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó
- Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Bà Phạm Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002649 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận; bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Mỹ Linh |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Áp dụng Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1 - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Kim H ly hôn ông Lê Hoàng Â. 2 - Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung Lê Hoàng K, sinh ngày 04/6/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng (có đơn trình bày nguyện vọng của con), ông  không cấp dưỡng nuôi con cùng bà H sau khi vợ chồng ly hôn. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó 3- Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. 4 - Về án phí: Bà Phạm Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002649 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận; bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
