TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST. Ngày 16-6-2025. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Đình Nhung;
Ông Nguyễn Văn An.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lộc- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng,
tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2025/TLST-HNGĐ
ngày 14 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm
2025; và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng V, sinh năm 1992 – Xin vắng mặt;
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện G, Tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Tống Nguyên K, sinh năm 1988- Vắng mặt.
Địa chỉ: khu phố H, phường A, thị xã T, Tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn
chị Phan Thị Hồng V trình bày:
Chị và anh Tống Nguyên K chung sống với nhau vào năm 2021, có tổ chức
lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã
T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi chung sống vợ chồng chung sống tại khu phố H,
phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7
2
năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính
tình không hợp nhau, anh K thường xuyên tham gia cờ bạc chị có khuyên nhiều
lần nhưng anh K không từ bỏ. vợ chồng ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay.
Từ khi ly thân, chị và anh K không ai đặt vấn đề đoàn tụ.
Nay chị yêu cầu được ly hôn anh K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Tống Nguyên K1,
sinh ngày 23/7/2023 hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được
tiếp tục nuôi K1, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ
án, triệu tập anh K đến Toà lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh K
không đến nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh K.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây
Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn
thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về quyền và nghĩa vụ của bị
đơn.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn
nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Hồng V yêu cầu được
ly hôn anh Tống Nguyên K.
Về con chung: Giao cháu Tống Nguyên K1, sinh ngày 23-7-2023 cho chị
V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị V không
yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Chị V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện
Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Phan Thị Hồng V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Tống Nguyên K vắng mặt tại phiên tòa mặc
3
dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn
cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân
sự tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh K chung sống với nhau vào năm
2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh
nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát
sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, anh K thường xuyên cờ bạc. Qua
xác minh tại địa phương không thể hiện được nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị
V và anh K. Nhưng chị V và anh K đã ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay mà
không ai đặt vấn đề đoàn tụ, đồng thời Tòa án đã nhiều lần mời anh K đến Tòa
làm việc, hòa giải nhưng anh K không đến, cho thấy anh K không có thiện chí
hàn gắn với chị V. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị V và anh K
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị V được ly hôn anh K theo quy
định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị V và anh K có một con chung là cháu Tống
Nguyên K1, sinh ngày 23/7/2023, Chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu
K1. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị V và anh K ly thân, chị V là người trực
tiếp nuôi dưỡng cháu K1, hiện cháu phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, để
tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu nên Hội đồng xét xử giao cho chị V tiếp
tục nuôi dưỡng cháu K1 là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Ghi nhận chị V không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt
ra giải quyết.
[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải
quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[6] Án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng Dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia
đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Hồng V đối
với anh Tống Nguyên K. Chị Phan Thị Hồng V được ly hôn anh Tống Nguyên
K.
4
2. Về con chung:
Giao cháu Tống Nguyên K1, sinh ngày 23/7/2023 cho chị Phan Thị Hồng
V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị V không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị V, anh K không yêu cầu nên không đặt
ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Phan Thị Hồng V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc
ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012298 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục
thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Chị V đã nộp đủ án phí
dân sự sơ thẩm.
5. Báo cho chị V, anh K biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh
Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Phạm Văn Hảnh |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
