Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/11/2025

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phú, ông Nguyễn Minh Tân.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 225/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/10/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1982; ĐKHTT: Phố L, phường T, thành phố Hải Phòng. Hiện ở: Kiot 15 chợ T, phường T, thành phố Hải Phòng. CCCD số [...]. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1974; ĐKHTT: Phố L, phường T, thành phố Hải Phòng. Hiện ở: Số C G, phường T, thành phố Hải Phòng. CCCD số [...]. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày: Chị với anh Phạm Văn D được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H (nay là phường T, thành phố Hải Phòng) ngày 29/8/2000. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Vợ chồng đã ly thân được hơn một năm nay, mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng với anh D không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D để mỗi bên sớm ổn định cuộc sống; Vợ chồng chị có 03 con chung là Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 12/10/2001, Phạm Thanh B1, sinh ngày 10/2/2005, Phạm Hà V, sinh ngày 08/10/2015. Cháu B và cháu B1 đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Hà V và tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung, công sức không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Văn D trình bày: Về thời gian và điều kiện kết hôn thống nhất như chị Đ trình bày. Anh xác định vợ chồng có mâu thuẫn đã ly thân hơn một năm nay, mỗi người một nơi. Trong thời gian ly thân anh cũng muốn hàn gắn nhưng chị Đ không cho anh cơ hội. Anh cũng đưa ra một số biện pháp để cải thiện tình trạng của vợ chồng nhưng chị Đ đều không chấp nhận. Anh xác định tình cảm vợ chồng với chị Đ vẫn còn nên chị Đ xin ly hôn, anh không đồng ý; Vợ chồng anh chị có 03 con chung là Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 12/10/2001, Phạm Thanh B1, sinh ngày 10/2/2005, Phạm Hà V, sinh ngày 08/10/2015. Cháu B và cháu B1 đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện cháu V đang ở cùng chị Đ, nếu vợ chồng phải ly hôn, chị Đ có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý; Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.

Tại đơn trình bày của cháu Phạm Hà V thể hiện: Cháu có nguyện vọng ở cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Tại biên bản lấy lời khai bà Hồ Thị C trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị Đ và là mẹ vợ anh D. Anh chị lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đã ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Nay chị Đ xin ly hôn đề nghị giải quyết theo nguyện vọng chị Đ.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 39 BLDS năm 2015, Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của toà án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ, xử cho chị Đ ly hôn anh Phạm Văn D; Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 12/10/2001, cháu Phạm Thanh B1, sinh ngày 10/02/2005 và cháu Phạm Hà V sinh ngày 08/10/2015. Hai cháu Ngọc B và T đã trưởng thành anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra giải quyết. Giao cháu Phạm Hà V, sinh ngày 17/01/2021 cho chị Đ nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh D có quyền thăm gặp con, không ai được cản trở thực hiện quyền này; Về tài sản chung, công sức, nợ: không yêu cầu nên không đặt ra việc giải quyết; Về án phí: chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh D đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường T và hiện cư trú tại phường T, thành phố Hải Phòng. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 35 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ, anh D được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định. Do vậy, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Lời khai chị Đ và anh D và người làm chứng là mẹ đẻ chị Đ thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự tin tưởng, yêu thương, chăm sóc nhau và đã sống ly thân hơn một năm nay. Nay chị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn anh D. Anh D có nguyện vọng xin đoàn tụ nhưng các biện pháp để cải thiện tình trạng vợ chồng anh D đề xuất chị Đ đều không chấp nhận và kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy chị Đ, anh D đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Đ ly hôn anh D là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 12/10/2001, Phạm Thanh B1, sinh ngày 10/2/2005, Phạm Hà V, sinh ngày 8/10/2015. Cháu B, cháu B1 đã trưởng thành, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Đ có nguyện vọng được nuôi cháu V và tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, anh D đồng ý. Cháu V có nguyện vọng ở cùng mẹ. Do vậy cần chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự giao cho chị Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Hà V cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của chị Đ về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình hai bên: Chị Đ, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị Đ xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại điểm a mục 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 35 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Đ ly hôn anh Phạm Văn D.
    • - Về nuôi con chung: Xử chấp nhận sự tự nguyện của chị Đ và anh D, giao cháu Phạm Hà V, sinh ngày 8/10/2015 cho chị Nguyễn Thị Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đ về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh D được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  2. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đ đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002591 ngày 25/9/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Hải Phòng. Chị Đ đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Đ, anh Phạm Văn D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND khu vực 8 – Hải Phòng;

- Phòng THADS khu vực 8 – Hải Phòng;

- Các đương sự;

- UBND phường Tân Hưng, TP Hải Phòng (ĐKKH ngày 29/8/2000);

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trần Thị Nhan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Đ-Phan Văn D tranh chấp ly hôn, con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger