Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14 – 03 – 2025

V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Thanh Tùng

Ông Nguyễn Đông Hồ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái

Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 14 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 691/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T - sinh năm: 1999 (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp N, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng N – sinh năm: 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 11 năm 2024 nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Trọng Nguyễn đăng K kết hôn vào ngày 05/05/2020 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2020 cho đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trọng N.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng bà không có con chung,.

- Về tài sản chung: Bà xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định vợ chồng bà không nợ ai, không ai nợ vợ chồng bà. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Trọng N kể từ khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập để xét xử nhưng ông Nguyễn Trọng N vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Trọng N đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông Nguyễn V vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T, ông Nguyễn T1 quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa bà Lê Thị T và ông Nguyễn Trọng N là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông Nguyễn Trọng N có địa chỉ tại ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:

[3.1] Về hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Trọng Nguyễn đăng K kết hôn vào ngày 05/05/2020 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Bà Lê Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trọng N do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi với nhau, vợ chồng đã không còn tiếng nói chung, gia đình hai bên đã hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng bà đã sống ly thân với nhau từ tháng 11 năm 2020 cho đến nay. Đối với yêu cầu này của bà T, Hội đồng xét xử thấy rằng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử vụ án ông N không có ý kiến bằng văn bản hay tự mình đến Tòa án thể hiện ý kiến của ông về yêu cầu ly hôn của bà T. Nhận thấy ông N không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn giữa bà T và ông N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với ông N. Chấp nhận cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Trọng N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Bà Lê Thị T xác định không có con chung, ông Nguyễn Trọng N không có ý kiền nào khác về con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là phù hợp.

[3.3] Về tài sản chung: Bà Lê Thị T xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là phù hợp.

[3.4] Về nợ chung: Bà Lê Thị T xác định vợ chồng bà không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ông Nguyễn Trọng N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến về nợ chung và tài sản chung. Nếu sau này giữa bà Lê Thị T và ông Nguyễn Trọng N có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì bà Lê Thị T và ông Nguyễn Trọng N có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lê Thị T phải nộp theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối với ông Nguyễn Trọng N.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Trọng N.
  2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng. Bà Lê Thị T có dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018949 ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Sau khi đối trừ bà T đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Trọng N không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Án xử sơ thẩm công khai bà Lê Thị T và ông Nguyễn Trọng N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - UBND xã Tân Hưng Đông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu ly hôn với ông N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger