|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/6/2025.
Về việc: “T/c về ly hôn; nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Tài và ông Chau Rót Tha.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa:
Không tham gia.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025, về việc: “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Yến P, sinh năm 2003;
Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Châu Quốc T, sinh năm 2002;
Nơi đăng ký thường trú: Tổ 5, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
(Vắng mặt bị đơn anh Châu Quốc T; đã tống đạt hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến P và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Chị Nguyễn Thị Yến P sống chung với anh Châu Quốc T từ năm 2022, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T, An Giang (giấy đăng ký kết hôn số 08 ngày 10/01/2023). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi có con thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong tình cảm vợ chồng, thường xuyên hay cãi nhau và anh Châu Quốc T không quan tâm vợ con, đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2024 đến nay. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Châu Quốc H sinh ngày 08/6/2023, hiện tại con đang sống chung với chị Nguyễn Thị Yến P.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Yến P yêu cầu được ly hôn với anh Châu Quốc T; về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi, yêu cầu anh Châu Quốc T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật; về tài sản thì tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Yến P xin rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với anh Châu Quốc T.
* Về phía bị đơn anh Châu Quốc T thì: Toà án đã nhiều lần gửi thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh Châu Quốc T đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì anh Châu Quốc T có nơi cư trú tại tổ E, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang; hiện tại anh Châu Quốc T không thường xuyên có mặt ở địa phương, giấy tờ của Tòa án giao không ai ký nhận nên Tòa án đã thông qua thừa phát lại thực hiện các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về xin ly hôn và nuôi con chung, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn anh Châu Quốc T vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Yến P đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Châu Quốc T từ năm 2022 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Nguyễn Thị Yến P xin được ly hôn với anh Châu Quốc T. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Y P và anh Châu Quốc T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án nhiều lần mời anh Châu Quốc T để hòa giải cho anh, chị đoàn tụ nhưng anh Châu Quốc T không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, vẫn không có mặt. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Yến P là được ly hôn với anh Châu Quốc T.
[3] Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Yến P thừa nhận cháu C Quốc Huy sinh ngày 08/6/2023 là con chung của chị và anh Châu Quốc T, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện điều này; do đó, cần công nhận cháu C Quốc H là con chung của chị chị P và anh T, đồng thời phía chị Nguyễn Thị Yến P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, từ khi anh chị không còn sống chung nữa thì cháu Châu Quốc H đã sống chung với chị Nguyễn Thị Yến P đến nay, đồng thời phía anh Châu Quốc T cũng không có ý kiến; do đó, để ổn định tâm lý và cuộc sống cho cháu nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Yến P là giao cháu Châu Quốc H cho chị Nguyễn Thị Yến P tiếp tục nuôi dưỡng. Ngoài ra, phía chị Nguyễn Thị Yến P yêu cầu anh Châu Quốc T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật nhưng tại phiên tòa đã rút lại yêu cầu này, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của chị Nguyễn Thị Yến P; tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
[4] Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị Yến P có yêu cầu ly hôn với anh Châu Quốc T nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử:
- * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Yến P là được ly hôn với anh Châu Quốc T.
- * Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Châu Quốc H sinh ngày 08/6/2023 là con chung của chị Nguyễn Thị Y P và anh Châu Quốc T;
- + Giao cháu C Quốc Huy cho chị Nguyễn Thị Yến P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (hiện cháu Châu Quốc H đang sống chung với chị Nguyễn Thị Yến P);
- + Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Yến P đối với anh Châu Quốc T.
- + Chị Nguyễn Thị Yến P cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Châu Quốc T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
- + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- * Về quan hệ tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận.
- * Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Yến P phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0013027 ngày 12/02/2025 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, An Giang; được khấu trừ nên chị Nguyễn Thị Yến P đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho chị Nguyễn Thị Yến P biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng anh Châu Quốc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Hoàng Huy Hùng |
4
5
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn; nuôi con chung
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn; nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Yến Phương yêu cầu được ly hôn; yêu cầu nuôi con và không cấp dưỡng
