Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10/6/2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

—————————

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng.
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Thủy và bà Phạm Thị Lan.
  • Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2025/TLST - HNGĐ ngày 24/4/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh ngày 10/3/1984. Nơi ĐKHKTT: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
  • Bị đơn: Anh Phạm Văn B, sinh ngày 30/11/1978. Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Hiện đang lao động tại Canada.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: cháu Phạm Thành V, sinh ngày 29/9/2008 và cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 08/02/2011. Người giám hộ cho cháu V và cháu T1 là bố, mẹ cháu chị Trần Thị T và anh Phạm Văn B. Đều trú tại: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
  • Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1956; trú tại: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An và anh Phạm Văn C, sinh năm 1974; trú tại: Thôn B, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

(Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Chị và anh Phạm Văn B có thời gian tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 11 tháng 11 năm 2007 tại UBND xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Sau khi kết hôn hai anh chị về sinh sống tại Khối T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hai anh chị chung sống được 15 năm hạnh phúc thì đến năm 2022 anh B đi lao động tại Canada, từ đó trở đi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khoảng cách địa lý dẫn đến tình cảm phai nhòa nên hai anh chị không còn có tiếng nói chung. Từ đó vợ chồng không ai quan tâm đến ai, sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, ai sống cuộc sống của người đó, kinh tế của ai người đó giữ. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên cho tôi ly hôn anh Phạm Văn B.
  • Về con chung: Hai anh chị có hai con chung là cháu Phạm Thành V, sinh ngày 29/9/2008 và cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 08/02/2011. Hiện các cháu đang ở cùng chị T. Ly hôn chị đề nghị tiếp tục được nuôi dưỡng hai cháu. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do hai vợ chồng anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa giải quyết.
  • Về tài sản chung, công nợ chung, ruộng đất nông nghiệp: Hai anh chị không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
  • Vì lý do công việc chị đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt.
  • Bị đơn anh Phạm Văn Bình công N lời trình bày của chị Trần Thị T về thời gian đăng ký kết hôn và quá trình chung sống, con chung, tài sản, nghĩa vụ chung, công sức của vợ chồng và xác định hai vợ chồng có mâu thuẫn từ năm 2022 nguyên nhân do hai vợ chồng không hợp nhau, anh đồng ý ly hôn với chị T. Anh chị đã thống nhất khi ly hôn chị T sẽ nuôi hai cháu Phạm Thành V, sinh ngày 29/9/2008 và cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 08/02/2011 và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Do tôi đang ở Canada không thể về Việt Nam được nên tôi uỷ quyền cho anh trai anh là anh Phạm Văn C, sinh năm 1974; trú tại: thôn B, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên sẽ nhận thay tôi các giấy tờ, tài liệu mà Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên gửi cho anh.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Phạm Thành V và cháu Phạm Thị Thanh T1 đều trình bày: Bố cháu đi Canada khi các cháu còn nhỏ. Thỉnh thoảng bố có gọi điện về cho các cháu, trường hợp bố mẹ ly hôn các cháu đề nghị được ở mẹ và ông bà ngoại.
  • Người làm chứng bà Nguyễn Thị M (mẹ đẻ chị T trình bày): Chị Trần Thị T và anh Phạm Văn B kết hôn tự nguyện, được hai gia đình tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn thì hai anh chị về sinh sống tại Khối T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Mâu thuẫn của anh chị thế nào thì bà không được biết. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh B thì bà không có ý kiến gì vì đó là việc của hai anh chị do hai anh chị Quyết định.
  • Người làm chứng anh Phạm Văn C (anh trai anh B trình bày): Chị Trần Thị T và anh Phạm Văn B kết hôn tự nguyện, được hai gia đình tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn thì hai anh chị về sinh sống tại Khối T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Mâu thuẫn của anh chị thế nào thì anh không được biết. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh B thì anh không có ý kiến gì vì đó là việc của hai anh chị. Anh đồng ý nhận thay anh B các tài liệu, giấy tờ mà Toà án gửi cho anh B, anh cam đoan sẽ giao lại cho anh B.
  • Ủy ban nhân dân xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên cung cấp: Chị Trần Thị T và anh Phạm Văn B có đăng ký kết hôn vào ngày 11 tháng 11 năm 2007 tại UBND xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên theo đúng quy định của pháp luật. Anh chị có hai con chung là cháu Phạm Thành V, sinh ngày 29/9/2008 và cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 08/02/2011.
  • Phòng Q Công an tỉnh H cung cấp: Anh Phạm Văn B, sinh ngày 30/11/1978; trú tại: Thôn B, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; chứng minh thư nhân dân số [...] do Giám đốc công an tỉnh H cấp; đã sử dụng hộ chiếu C9277832 cấp ngày 09/9/2020, đã xuất cảnh ngày 29/10/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
  • Tại phiên tòa: Chủ tọa phiên tòa công bố lý do các đương sự vắng mặt.
  • Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:
    • Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
    • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 BLTTDS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị T, công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị T và anh B. Giao chị T nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Phạm Thành V, sinh ngày 29/9/2008 và cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 08/02/2011; chấp nhận sự tự nguyện của anh chị không yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con chung. Không giải quyết về tài sản, nghĩa vụ của anh chị. Các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  • [1]. Về tố tụng:
    • Chị T làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh B. Theo công văn số 1157/PA08 ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Phòng Q Công an tỉnh H, có căn cứ xác định bị đơn anh Phạm Văn B đang sinh sống tại nước ngoài. Vì vậy Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp quy định tại Điều 35, và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
    • Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 229 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • [2]. Về nội dung:
    • [2.1]. Chị Trần Thị T và anh Phạm Văn B kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thị xã M vào ngày 11/11/2007 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận.
    • Đánh giá mối quan hệ vợ chồng thì thấy: Trên thực tế thì chị T và anh B đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2022 cho đến nay, cả hai không còn quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau đã nhiều năm, kinh tế mỗi người là độc lập không có sự chia sẻ. Mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hạnh phúc, và vợ chồng phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cuộc hôn nhân giữa hai anh chị là hoàn toàn không có. Nay chị T xin ly hôn, anh B cũng nhất trí chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị T và anh B.
    • [2.2]. Về con chung: Chị T và anh B đều thống nhất giao hai con chung là cháu V và cháu T1 cho chị T chăm sóc nếu vợ chồng ly hôn. Quan điểm của chị T và anh B phù hợp với nguyện vọng của các con cũng như đảm bảo được quyền lợi và sự ổn định cho hai cháu trong việc ăn ở, học tập và sinh hoạt nên sẽ giao chị T nuôi dưỡng chăm sóc hai con chung là cháu Phạm Thành V, sinh ngày 29/9/2008 và cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 08/02/2011.
    • Chị T và anh B đã thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.
    • [2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị T và anh B đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nghĩa vụ chung của vợ chồng và các vấn đề khác nên không xem xét.
    • [3]. Về án phí: Chị Trần Thị T và anh Phạm Văn B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228, Điều 229, Điều 238, khoản 4 Điều 147; và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Phạm Văn B.
  2. Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Giao chị Trần Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là cháu Phạm Thành V, sinh ngày 29/9/2008 và cháu Phạm Thị Thanh T1, sinh ngày 08/02/2011 cho đến khi thành niên.
  3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T và anh B không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  4. Anh Phạm Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này; nếu anh B lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh B.
  5. Vì quyền lợi của con chung, chị T và anh B có quyền yêu cầu việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
  6. Về tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác: Không giải quyết.
  7. Về án phí: Chị Tràn Thị T2 và anh Phạm Văn B mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
  8. Đối với chị T2 được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000312 ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Hoàn trả chị T2 số tiền 225.000 đồng.
  9. Quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn B được quyền kháng cáo trong thời hạn một tháng, chị Trần Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • Các đương sự;
  • UBND xã Cẩm Xá;
  • Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nam Thắng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Viết Thủy

Phạm Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger