Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 52/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 10 - 6 - 2025.

(V/v: Ly hôn, nuôi con chung)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà: Lê Thị Kiều Thu.
  2. Bà: Trần Thị Thanh Nga.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thái Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Trương Thị Thơ – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 81/2025/TLST- HNGĐ ngày 05/3/2025 “ V/v: Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2025/QÐST – HNGĐ ngày 23/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 297/2025/QÐST – HNGĐ ngày 22/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm 1982.

Bị đơn: Ông Võ Văn P, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 02 năm 2025, bản tự khai ngày 14/3/2025 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Phan Thị N trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Võ Văn P tự tìm hiểu, quen biết nhau, đến năm 2005 thì đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, cấp ngày 22/09/2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng nhau làm ăn lo cho gia đình và con cái. Đến năm 2018, thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông P không còn quan tâm đến gia đình như trước nữa, thường xuyên nhậu nhẹt, đi sớm về khuya, làm gì đi đâu bà cũng không có quyền được biết, công việc làm ăn của ông cũng không bàn bạc mà tự ý quyết định. Nhiều lần bà cũng khuyên nhưng ông không nghe, còn đánh đập xúc phạm chửi bới bà nhiều lần. Còn tiền bạc ông đưa không đủ trang trải cho gia đình. Bà phải buôn bán xuôi ngược để vun đắp gia đình êm ấm, nhưng càng ngày ông càng không thương bà, bệnh đau tự kiếm tiền chữa trị, lúc bà cần ông thì không bao giờ ông có mặt, con cái ông cũng không quan tâm, làm tinh thần và thể xác bà suy sụp nên không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, nên bà làm đơn này mong Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Văn P.

- Về con chung: Có 02 con chung

  1. Võ Thị Ngọc Hiền, sinh ngày 03/11/2006.
  2. Võ Thanh Hậu, sinh năm 2015.

Nay ly hôn, bà yêu cầu nuôi con Võ thanh H, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Riêng Võ Thị Ngọc H1 đã đủ tuổi trưởng thành.

Tại phiên tòa, bà Phan Thị N trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông P vì vợ chồng đã tự sống ly thân nên không còn tình cảm nữa. Về con chung bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Bị đơn ông Võ Văn P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Phan Thị N tự nguyện tìm hiểu chung sống vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Trong quá trình chung sống vợ chồng vẫn bình thường đôi khi có xảy ra mâu thuẫn nhưng không đáng kể, khoảng 2 năm nay vợ chồng tự lo cho riêng mình, không quan tâm chăm sóc nhau nữa. Thời gian gần đây vợ ông làm đơn ly hôn cho rằng ông không quan tâm gia đình, đánh đập xúc phạm vợ thì việc này không đúng. Nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý với điều kiện được nuôi con Võ Thanh H, sinh năm 2015.

Về con chung có 2 con Võ Thị Ngọc H1, sinh năm 2006 và Võ Thanh H, sinh năm 2015. Tài sản chung và nợ chung: tự thoả thuận.

Tại phiên Tòa vắng mặt ông Võ Văn P.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung: giao con Võ Thanh H cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Riêng con Võ Thị Ngọc H1 đã đủ tuổi trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung bà N không yêu cầu giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa do bị đơn vắng mặt nên nguyên đơn không tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: thẩm quyền giải quyết vụ án, phía bị đơn ông Võ Văn P có nơi cư trú tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N về việc “Ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Tại phiên tòa hôm nay ông Võ Văn P vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]Về nội dung khởi kiện:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: bà Phan Thị N và ông Võ Văn P chung sống vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, cấp ngày 22/09/2005, số 44, quyển số I. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông P là hợp pháp. Theo bà N, ông P thì quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian sau này thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên từ cuối năm 2023 vợ chồng tự sống ly thân. Nay bà N yêu cầu ly hôn, ông P đồng ý với điều kiện được nuôi con Võ Thanh H. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay bà N, ông P mạnh ai nấy sống không quan tâm nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được nữa, ông P cũng không còn tình cảm với bà N nên không cần thiết phải tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này, việc bà N yêu cầu ly hôn với ông P là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: có 2 con chung Võ Thị Ngọc H1, sinh ngày 03/11/2006 và Võ Thanh H, sinh ngày 20/8/2015.

Nay ly hôn, bà N yêu cầu nuôi con Võ Thanh H, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Riêng con Võ Thị Ngọc H1 đã đủ tuổi trưởng thành.

Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay cháu H đang ở với mẹ và cháu H có tiền sử bệnh chậm phát triển nên tiếp tục giao cháu H cho bà N nuôi dưỡng là có cơ sở. Về cấp dưỡng nuôi con bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xét.

[3]Về án phí: bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N.

-Về quan hệ hôn nhân: bà Phan Thị N được ly hôn với ông Võ Văn P.

-Về con chung: giao con Võ Thanh H, sinh ngày: 20/8/2015 cho bà Phan Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Ông P được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

-Về tài sản chung và nợ chung: bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3/Về án phí: bà N nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Bà N đã nộp 300.000 đồng tạm ứng phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0002860 ngày 05/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan Thiết, được chuyển thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/6/2025). Quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự,
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - UBND xã Thạnh Tân, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu.

TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

VŨ THỊ THU HÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ - ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHAN THỊ N LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON VÕ VĂN P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger