|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/03/2025
V/v: “ Tranh chấp Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Ông Trần Văn Tam
Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Trần Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2025 tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2659/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025.Quyết định hoãn phiên toà số 63/2025 ngày 20/2/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1993.
Địa chỉ thường trú: thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Địa chỉ liên hệ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.
Bị đơn: : Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985.
Địa chỉ thường trú: thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Địa chỉ cư trú: 1 Đ khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 02 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu chúng tôi chung sống hạnh phúc. Nhưng sau đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn về mặt tình cảm, do quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất nên hay xảy ra xung đột và không còn tôn trọng, yêu thương lẫn nhau. Mặc dù, bà T và anh T1 đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả.
Đời sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà T làm đơn để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết thủ tục ly hôn giữa bà T và ông T1.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung, gồm: Cháu Nguyễn Ngọc Bích P, sinh ngày: 27/9/2016 ; Cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày: 24/7/2018.Sau khi ly hôn, bà T đồng ý giao 02 cháu Nguyễn Ngọc B P và cháu Nguyễn Minh Đ cho ông Nguyễn Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T không cấp dưỡng trong việc ông T1 nuôi con chung.
Về tài sản chung, Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn T1:
Trong quá trình giải quyết, ông T1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; được triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng ông T1 vẫn không đến Tòa án làm việc, không có tin tức gì và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký kể từ khi thụ lý vụ án là đúng quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành pháp đúng các thủ tục theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật;
Về nội dung giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung, gồm: Cháu Nguyễn Ngọc Bích P, sinh ngày 27/9/2016; Cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 24/7/2018. Sau khi ly hôn, bà T đồng ý giao 02 cháu Nguyễn Ngọc B P và cháu Nguyễn Minh Đ cho ông Nguyễn Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Bà T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về Thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà giải quyết việc ly hôn. Ông Nguyễn Văn T1 có cư trú tại địa chỉ 1 Đ, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên đơn khởi kiện về việc ly hôn của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, thông báo về việc thụ lý vụ án; được triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt không có lý do,không có tin tức gì và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
3. Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T thì thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 trên cơ sở tự nguyện, đúng quy định về điều kiện kết hôn và được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định, nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 nhận thấy: Trong thời gian sống chung giữa bà T và ông T1 không được hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T1 lên Tòa án để làm việc, hòa giải nhưng ông T1 vắng mặt. Như vậy, ông T1 đã bỏ mặc hôn nhân không có ý định hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà T. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hoà thuận, tình cảm không còn, vợ chồng không thể chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét cần chấp nhận yêu cầu của bà T cho ly hôn với ông T1 là phù hợp với khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
4. Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung, gồm: Cháu Nguyễn Ngọc Bích P, sinh ngày 27/9/2016; Cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 24/7/2018. Hiện nay các cháu đang ở với ông Nguyễn Văn T1. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống của cháu được ổn định, việc xem xét để ai trực tiếp nuôi con cần đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai cháu Đ và P cho ông Nguyễn Văn T1 được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà T đồng ý giao 02 cháu Nguyễn Ngọc B P và cháu Nguyễn Minh Đ cho ông Nguyễn Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Bà T không cấp dưỡng nuôi con.
5. Về tài sản, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết .
6. Về án phí: Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ vào Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
2.Về nuôi con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung, gồm:
- + Cháu Nguyễn Ngọc Bích P, sinh ngày 27/9/2016
- + Cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 24/7/2018
Giao 02 con chung Nguyễn Ngọc Bích P, sinh ngày 27/9/2016 và Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 24/7/2018 cho ông T1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau ly hôn, bà Nguyễn Thị T vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà T có quyền thăm nom các con chung, không ai được cản trở bà T thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3.Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4.Về án phí: Bà T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà T đã nộp tại biên lai số 0004575 ngày 05/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai bà T đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn được quyền được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Vinh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
