trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 09-04-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Chinh.
  2. Ông Nguyễn Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 09 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 770/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tiết Thị T - sinh năm 1988; địa chỉ: Số D đường N, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Anh Lê Văn Út E - sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ F, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/12/2024, nguyên đơn chị Tiết Thị T trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Út E qua tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 26/07/2012. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2019 thì vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cả hai cũng đã tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng cũng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Tiết Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn Út E.

- Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 04 con chung tên Lê Văn P - sinh ngày 26/7/2004, Lê Hoàng N - sinh ngày 26/7/2007, Lê Trung H - sinh ngày 12/10/2009 và Lê Hoàng P1 - sinh ngày 01/9/2014, hiện nay con chung Lê Văn P và Lê Trung H đang sống với anh Út E; con chung Lê Hoàng N và Lê Hoàng P1 đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung Lê Hoàng N và Lê Hoàng P1, không yêu cầu anh Út E phải cấp dưỡng nuôi con; chị T đồng ý giao con chung Lê Trung H cho anh Út E được trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Lê Văn P đã trưởng thành nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn là anh Lê Văn Út E đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Út E.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm Bản sao Trích lục kết hôn và Bản sao Giấy khai sinh con chung; Tòa án đã thông báo cho bị đơn biết các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp nhưng bị đơn vẫn không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn, nuôi con chung và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh Lê Văn Út E hiện đang cư trú ở xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lê Văn Út E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn chị Tiết Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với chị T và anh Út E.

[4] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn chị Tiết Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn Út E và yêu cầu giải quyết đối với con chung; Hội đồng xét xử nhận định:

[5] Căn cứ Bản sao Trích lục kết hôn số 58/TLKH-BS, ngày 27/04/2020 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã thể hiện chị Tiết Thị T và anh Lê Văn Út E có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 26/07/2012, như vậy đã có đủ cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân của chị T và anh Út E là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giải thích, hòa giải, động viên các đương sự đoàn tụ gia đình, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, chị T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và không còn sống chung với nhau nên tình cảm vợ chồng cũng không còn, không thể đoàn tụ được; do đó, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Út E. Đối với bị đơn anh Lê Văn Út E đã được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Út E không tham dự, chứng tỏ anh Út E đã bỏ mặc và không còn quan tâm đến quyền và nghĩa vụ của mình trong mối quan hệ với chị T.

[7] Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Út E có tồn tại mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không đạt được mục đích như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không thể kéo dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn với anh Út E là có cơ sở nên chấp nhận.

[8] Về con chung:

[8.1] Theo trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chị T và anh Út E có bốn con chung tên Lê Văn P - sinh ngày 26/7/2004, Lê Hoàng N - sinh ngày 26/7/2007, Lê Trung H - sinh ngày 12/10/2009 và Lê Hoàng P1 - sinh ngày 01/9/2014, hiện nay con chung Lê Văn P và Lê Trung H đang sống với anh Út E; con chung Lê Hoàng N và Lê Hoàng P1 đang sống với chị T.

[8.2] Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung Lê Hoàng N và Lê Hoàng P1; chị T đồng ý giao con chung Lê Trung H cho anh Út E được trực tiếp nuôi dưỡng. Riêng con chung Lê Văn P đã trưởng thành nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[8.3] Xét thấy việc quyết định giao con chung cho bên nào được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Xét thấy con chung Lê Văn P đã trưởng thành, các đương sự cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét. Đối với con chung Lê Hoàng N và Lê Hoàng P1 đang sống cùng chị T, con chung Lê Trung H đang sống cùng với anh Út E, nhận thấy cuộc sống của các cháu đang ổn định, có đủ điều kiện để phát triển bình thường cả về thể chất và tinh thần nên không cần thiết phải thay đổi. Bởi lẽ đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị T; giao các con chung Lê Hoàng N và Lê Hoàng P1 cho chị Tiết Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung Lê Trung H cho anh Lê Văn Út E được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T và anh Út E có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[9] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cấp dưỡng cho con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị T và anh Út E không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con; do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[10] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[11] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; chị Tiết Thị T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Tiết Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tiết Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Út E.
  2. Về con chung: Giao các con chung Lê Hoàng N - sinh ngày 26/7/2007 và Lê Hoàng P1 - sinh ngày 01/9/2014 cho chị Tiết Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao con chung Lê Trung H - sinh ngày 12/10/2009 cho anh Lê Văn Út E được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Chị T và anh Út E không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau do không có ai yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Đối với con chung Lê Văn P đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
  4. Về án phí: Tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Tiết Thị T phải chịu, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001820 ngày 13/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị T đã nộp xong án phí.
  5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND HCL;
  • - Đương sự;
  • - CC THADS HCL;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Trường Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tiết Thị Thảo được ly hôn với anh Lê Văn Út Em. 2. Về con chung: Giao các con chung Lê Hoàng Nhã - sinh ngày 26/7/2007 và Lê Hoàng Phương - sinh ngày 01/9/2014 cho chị Tiết Thị Thảo được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao con chung Lê Trung Hậu - sinh ngày 12/10/2009 cho anh Lê Văn Út Em được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Chị Thảo và anh Út Em không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau do không có ai yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Đối với con chung Lê Văn Phong đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger