Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/DS-ST

Ngày: 04 tháng 4 năm 2025

V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Văn Vô

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Nguyễn Thiên Kim – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 386/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng (hợp đồng sử dụng thẻ)" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QÐST-DS-HPT ngày 04/3/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S;

Địa chỉ trụ sở: 266-268 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác Tài sản Ngân hàng S (Công ty S1).

Người đại diện theo pháp luật của Công ty (Giấy ủy quyền 2535A/2022/GUQ-PL) ngày 12/10/2022): Ông Lê Ngọc T – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền lại (Giấy ủy quyền 8760/2024/UQ-TGÐ ngày 28/11/2024): Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1996. (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: 2 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lê Đức H1, sinh năm 1949. (Vắng mặt)

Địa chỉ: B T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2024, các bản tự khai ngày 23/01/2025, 04/3/2025, 04/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S2) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Huy H trình bày:

Ngân hàng S2 và ông Lê Đức H1 thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2 (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) ngày 27/12/2011, hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,5%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 31.590.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 20.430.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/12/2013 Ngân hàng S2 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá. Ngân hàng S2 đã chuyển toàn bộ dư nợ tính đến ngày 23/12/2013 là 31.392.461 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (lãi suất quá hạn là 3,75%/ tháng (2.5% * 150%). Tính đến ngày 11/11/2024, ông H1 còn nợ Ngân hàng S2 số tiền là 187.412.860 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu, bốn trăm mười hai nghìn, tám trăm sáu mươi đồng). Trong đó bao gồm nợ gốc là 31.392.461 đồng, lãi quá hạn là 156.020.399 đồng. Do đó, Ngân hàng S2 khởi kiện yêu cầu ông H1 phải thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/11/2024 là 187.412.860 đồng. Ngoài ra, ông H1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 12/11/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn – ông Lê Đức H1 trong suốt quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng dưới đây nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do:

  • - Thông báo thụ lý vụ án số 386/TB-TLVA ngày 27/12/2024; Giấy triệu tập số 386-2/GTT-TA ngày 30/12/2024 (đến Tòa án lúc 10 giờ 00 phút ngày 23/01/2025);
  • - Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 386/2024/TB-TA ngày 30/12/2024; Giấy triệu tập số 386-2/GTT-TA ngày 30/12/2024 (đến Tòa án lúc 10 giờ 00 phút ngày 23/01/2025);
  • - Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-DS ngày 04/02/2025; Giấy triệu tập số 386-2/GTT-TA ngày 04/02/2025 (đến Tòa án lúc 14 giờ 30 phút ngày 04/03/2025); Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 386/2024/8TB-TA ngày 23/01/2025;
  • - Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QÐST-DS-HPT ngày 04/3/2025 (thời gian mở lại phiên tòa lúc 08 giờ 30 phút ngày 04/4/2025); Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-DS ngày 04/3/2025; Giấy triệu tập số 386-2/GTT-TA 04/3/2025 (đến Tòa án lúc 08 giờ 30 phút ngày 04/4/2025).

Tại phiên toà sơ thẩm,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 01/4/2025. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có bản tự khai và Tóm tắt sao kê đề ngày 04/4/2025 xác định số nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (04/4/2025) mà ông H1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S2 là 193.104.622 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu, một trăm lẻ bốn nghìn, sáu trăm hai mươi hai đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 31.392.461 đồng, lãi quá hạn là 161.712.161 đồng. Ngoài ra, ông Lê Đức H1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 05/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu quan điểm:

– Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.

– Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Đức H1 thanh toán tổng số tiền là 193.104.622 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu, một trăm lẻ bốn nghìn, sáu trăm hai mươi hai đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 31.392.461 đồng, lãi quá hạn là 161.712.161 đồng. Ngoài ra, ông Lê Đức H1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 05/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Án phí ông H1 chịu theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S2) khởi kiện, yêu cầu ông Lê Đức H1 trả tiền nợ theo hợp đồng tín dụng thẻ. Trên hợp đồng thẻ ghi địa chỉ bị đơn tại số B T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: “Tại địa chỉ B T, Phường G, Quận E không có công dân tên Lê Đức H1, sinh năm 1949 đăng ký thường trú, tạm trú lưu trú và không thực tế cư trú tại địa phương”. Như vậy, ông H1 là người đang phải thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng thẻ với Ngân hàng S2 nhưng cung cấp địa chỉ cư trú không đúng hoặc đã chuyển nơi cư trú mà không thông báo cho Ngân hàng S2 nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/7/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn là Ngân hàng S2 có đơn đề ngày 01/4/2025 đề nghị được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án. Bị đơn là ông Lê Đức H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-DS ngày 04/02/2025 (tham gia phiên tòa lần 01 lúc 14 giờ 30 phút ngày 04/3/2025); Quyết định hoãn phiên toà số 23/2025/QÐST-DS-HPT ngày 04/3/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-DS ngày 04/3/2025 (tham gia phiên tòa lần 02 lúc 08 giờ 30 phút ngày 04/4/2025) và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Xét ông Lê Đức H1 đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/12/2011, loại thẻ tín dụng nội địa Family, số thẻ: 3868711783 với Ngân hàng S2 để vay khoản tiền là 30.000.000 đồng.

[3.2] Theo Bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng S2 nộp cho Toà án ngày 04/4/2025, Hội đồng xét xử xác định ông H1 đã bắt đầu sử dụng thẻ từ ngày 20/01/2012. Số tiền ông H1 đã giao dịch là 31.590.000 đồng, số tiền lãi trong hạn là 17.306.100 đồng, các khoản phí là 2.926.361 đồng (gồm phí trễ hạn 1.835.361 đồng, phí vượt hạn mức là 350.000 đồng và phí thường niên 741.000 đồng). Số tiền ông H1 đã thanh toán là 20.430.000 đồng. Khoản tiền trên được thanh toán cho các khoản phí/lãi kỳ trước và trong kỳ, các giao dịch rút tiền mặt kỳ trước và trong kỳ, các giao dịch mua hàng hóa kỳ trước và trong kỳ theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Số tiền nợ gốc còn lại được tính theo cách: Số tiền giao dịch - số tiền thanh toán thực tế (số tiền thanh toán thực tế = số tiền ông H1 thanh toán trừ đi các khoản phí và lãi trong hạn).

Số tiền thanh toán thực tế của ông H1 được tính như sau:

20.430.000 đồng 2.926.361 đồng 17.306.100 đồng = 197.539 đồng.
Số thanh toán Các loại phí Lãi trong hạn

=> Số tiền nợ gốc: 31.590.000 đồng – 197.539 đồng = 31.392.461 đồng

Tiền giao dịchTiền thanh toán thực tế

[3.3] Căn cứ vào Thông báo về việc thay đổi lãi suất thẻ tín dụng Family số 314/TB-TTT ngày 22/5/2012 do Ngân hàng S2 cung cấp, đối chiếu với thời điểm vay thẻ hiện mức lãi suất 2,5%/tháng áp dụng cho hợp đồng thẻ tín dụng số 3868711783 đối với ông H1 là đúng với Quyết định về việc ban hành mức lãi suất. Theo Bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2 cho thấy việc áp dụng các mức lãi suất theo từng thời kỳ Ngân hàng S2 không cần thông báo trước cho chủ thẻ.

[3.4] Căn cứ vào Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S2 có thể hiện nội dung: «Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ phát hành Thông Báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng.....Khi sự kiện vi phạm xảy ra Chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn Vị Phát Hành Thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau :.....- Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi nợ. – Áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Đơn Vị Phát Hành Thẻ»

[3.5] Căn cứ bản Tóm tắt sao kê ngày 04/4/2025 của Ngân hàng S2 cung cấp cho thấy ngày 23/12/2013 Ngân hàng S2 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với dư nợ tại thời điểm này là 31.392.461 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại (lãi suất được áp dụng tại thời điểm hiện tại là 2,5%/tháng Thông báo về việc thay đổi lãi suất thẻ tín dụng Family số 314/TB-TTT ngày 22/5/2012. Như vậy, lãi quá hạn của ông Lê Đức H1 được Ngân hàng S2 tính như sau: 31.392.461 đồng x 3,75%/tháng: 30 ngày (39.241 đồng/ngày) x 4121 ngày (từ 23/12/2013 – 04/4/2025 = 4121 ngày) = 161.712.161 đồng.

[3.6] Ông H1 không có mặt tại Tòa án để cho lời khai hoặc nêu ý kiến về các khoản tiền gốc, tiền lãi đã thanh toán và các khoản phí mà S2 yêu cầu được xem là ông H1 đã từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh cho mình. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S2 với số nợ gốc, nợ lãi quá hạn mà Ngân hàng S2 yêu cầu ông H1 phải trả.

[3.7] Từ các nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S2 đối với khoản nợ của thẻ tín dụng số: 3868711783 của ông H1 với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 04/4/2025) là 139.104.622 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu, một trăm lẻ bốn nghìn, sáu trăm hai mươi hai đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 31.392.461đồng, lãi quá hạn là 161.712.161 đồng.

[3.8] Về thời hạn thanh toán: Từ tháng 10 năm 2013, ông H1 đã không thanh toán bất kì khoản tiền nào cho Ngân hàng S2, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng S2. Do vậy, cần buộc ông H1 thanh toán các khoản nợ làm một lần cho Ngân hàng S2 sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng S2 được chấp nhận nên bị đơn là ông H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là Ngân hàng S2.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 267; Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Căn cứ Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
  • - Căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
  • - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S:

1.1 Buộc ông Lê Đức H1 phải trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 193.104.622 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu, một trăm lẻ bốn nghìn, sáu trăm hai mươi hai đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 31.392.461 đồng (Ba mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi hai nghìn, bốn trăm sáu mươi mốt đồng), lãi quá hạn là 161.712.161 đồng (Một trăm sáu mươi mốt triệu, bảy trăm mười hai nghìn, một trăm sáu mươi mốt đồng) theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ngày 27/12/2011 (Số thẻ 3868711783).

Việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

1.2 Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Ông Lê Đức H1 chịu 9.655.231 đồng (Chín triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, hai trăm ba mươi mốt đồng).

2.2. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 4.685.322 đồng (Bốn triệu, sáu trăm tám mươi lăm nghìn, ba trăm hai mươi hai đồng) theo Biên lai thu số 0061102 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Lê Đức H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS nhân dân Quận 5;
  • - Chi Cục THADS Quận 5;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 52/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger