TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ **** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/DS- ST
Ngày: 20.6.2025
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Thái Ánh Trinh;
- Ông Nguyễn Viết Ngoan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - Tp. Cần Thơ.
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt– Tp. Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 336/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc " Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2025/QÐST - DS ngày 06 tháng 3 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 538/2025/TB.TA, ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lương Ngọc H, sinh năm 1982; (có mặt)
Địa chỉ: E đường T, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Quốc S, sinh năm 1993; Ông Hà Văn Đ, sinh năm 2001. Theo văn bản ủy quyền số 1423, quyển số 6/2025 TP/CC-SCC/HĐGD, được Văn phòng C chứng nhận ngày 11/6/2025.
Bị đơn: 1/ Ông Lương Văn T – sinh năm 1973;(có mặt)
2/ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972;(có mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lương Minh T1, sinh năm 2000; (xin xét xử vắng mặt)
- Cháu Lương Ngọc T2, sinh năm: 2010; (xin xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
2
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Ẩ, sinh năm 1948; (xin xét xử vắng mặt)
Ông Lương Thành T3, sinh năm: 1970;
Bà Cao Thị Cẩm L, sinh năm: 1969.
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 5 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lương Ngọc H trình bày:
Thửa đất 1293, tờ bản đồ số 6, diện 916,1m² (160m² đất ODT và 756,1m² đất CLN) số vào sổ cấp GCN CQ00364, do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 07/12/2010 cho ông Lương Ngọc H, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc thửa đất 1293 được ông Lương Văn H1 (cha ruột) tặng cho ông H cùng với căn nhà trên đất.
Ông Lương Văn T là anh ruột ông H. Trước đây, ông Lương Văn H1 có chia cho ông Lương Văn T một phần đất nhưng vợ chồng ông T, bà M không ra riêng mà tiếp tục sinh sống trên thửa đất 1293 của ông H. Do nghĩ tình anh em nên ông H cho vợ chồng ông T, bà M ở nhờ trên đất cho đến nay. Nay ông H có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu ông T, bà M có trách nhiệm trả lại thửa đất 1293 và toàn bộ tài sản trên đất để ông H quản lý, sử dụng. Ông H không hỗ trợ chi phí di dời.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lương Văn T trình bày:
Thửa đất 1293 có nguồn gốc của cha là ông Lương Văn H1 tặng cho ông Lương Ngọc H để ông H ở và nuôi cha mẹ. Ông T cũng được ông Hai T4 cho phần đất khác để ở, tuy nhiên do ông H không ở chung với cha mẹ nên vợ chồng ông T mới ở trên thửa 1293 để nuôi cha mẹ. Đối với phần đất mà ông H1 cho ông T thì ông T đã bán để trả nợ và lo cho cha lúc ốm đau. Hiện tại gia đình ông T không cò đất nào khác để ở.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của ông H thì ông T có yêu cầu phản tố yêu cầu được công nhận một phần đất để ở, phần đất mà ông T yêu cầu tại vị trí A theo Bản trích đo địa chính số 24/VPĐKĐĐ ngày 14/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở T6 nay là sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố T6 thực hiện.
Bị đơn bà M thống nhất theo trình bày của ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lương Minh T1, em Lương Ngọc T2 là con ruột của ông T, bà M, thống nhất theo ý kiến của ông T, bà M và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án án đã tiến hành thẩm định đối với tài sản tranh chấp cũng như tổ chức hòa giải để các đương sự có thể tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tuy nhiên do các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay:
3
Nguyên đơn đề nghị hổ trợ chi phí di dời cho bị đơn với số tiền 35.000.000 đồng và cho thời gian 02 tháng để bị đơn di dời đồ đạc đi nơi khác, tuy nhiên bị đơn không đồng ý đề nghị cho thời gian 6 tháng, nguyên đơn không đồng ý. Vì vậy, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu càu bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc gia đình bị đơn trả lại thửa đất 1293 diện tích qua đo đạc thực tế là 940,6m² (có 160m² đất ODT). Đối với tài sản trên đất, nguyên đơn chỉ thừa nhận bị đơn có xây mới nhà vệ sinh độc lập và trồng cây chùm ruột, các loại cây trồng và tài sản khác là của cha mẹ để lại.
Bị đơn trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố được công nhận phần diện tích đất ký hiệu A, tại bản trích đo địa chính số 24/VPĐKĐĐ. Về cây trồng trên đất gồm: chùm ruột, dừa và tài sản gồm nhà phụ phía sau, mái cháy cặp nhà phụ là của bị đơn trồng, sửa chữa. Ngoài ra không còn tài sản nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật. Đồng thời, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn;
- Buộc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giao trả thửa đất 1293, tờ bản đồ số 6, diện tích qua đo đạc thực tế là 940,6m² (160m² ODT còn lại là cây lâu năm) cho ông Lương Ngọc H quản lý sử dụng.
- Về các loại cây trồng trên đất căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nếu trường hợp chứng minh được là của bị đơn trồng thì buộc ông Lương Ngọc H hoàn trả lại giá trị và giao cho ông H quản lý sở hữu.
- Tính án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng cho các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Lương Ngọc H yêu cầu ông Lương Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ G lại thửa đất 1293 và toàn bộ tài sản trên đất để ông T quản lý sử dụng. Đây là quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Đối tượng tranh chấp là bất động sản có địa chỉ tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1
4
Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
[2]Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét nội dung vụ án:
3.1 Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn:
Căn cứ theo trích lục hồ sơ địa chính mà nguyên đơn cung cấp cũng như sự thừa nhận của bị đơn trong quá giải quyết vụ án thì thửa đất 1293 có nguồn gốc của ông Lương Văn H1, đến năm 2010 ông H1 làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con là ông Lương Ngọc H, đến ngày 17/12/2010 ông H được Ủy ban nhân dân quận T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lương Văn T có yêu cầu phản tố được công nhận một nền nhà trên thửa 1293 tại vị trí A diện tích 118,4m² (gồm 76,8 m² đất cây lâu năm và 41,6 m² đất thổ cư) Bản trích đo địa chính số 24/VPĐKĐĐ. Bị đơn cho rằng từ khi được cha cho đất thì ông H không trực tiếp chăm sóc cha mẹ mà đi nơi khác sinh sống, vợ chồng ông T, bà M là người trực tiếp ở trên đất để chăm sóc cha mẹ cho đến khi cha mẹ qua đời. Do làm ăn thất bại nên ông đã bán phần đất mà cha cho để trả nợ, hiện nay hoàn cảnh kinh tế của gia đình khó khăn nếu phải trả đất cho nguyên đơn thì vợ chồng bị đơn không còn phần đất nào khác để ở.
Nhận thấy, theo trích lục hồ sơ địa chính thì thửa đất 1293 có nguồn gốc của ông Lương Văn H1 tặng cho ông Lương Ngọc H. Mặt khác, phía bị đơn cũng thừa nhận cha mẹ có cho riêng các anh em mỗi người một phần đất, bị đơn do làm ăn thất bại đã bán phần đất được cha mẹ cho để trả nợ, thừa nhận phần đất đang ở tại thửa 1293 là của nguyên đơn. Như vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Đối với phần diện tích chênh lệch qua đo đạc thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tòa án đã có công văn hỏi cơ quan chuyên môn, nhưng từ khi tạm dừng phiên tòa đến nay đã hơn 2 tháng vẫn chưa nhận được kết quả trả lời, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vụ án được đưa ra xét xử. Nhận thấy, diện tích đất thực tế tăng so với giấy đất có thể do thời điểm cấp giấy trước đây đo đạc bằng thước dây và hiện tại đo bằng máy nên tính diện tích không chính xác, việc đo đạc lại thửa đất hộ tứ cận đã xác định ranh giới đất và ký giáp ranh, nguyên đơn có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung đối với diện tích tăng thêm, vì vậy nghĩ công nhận cho nguyên đơn là phù hợp.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn Hội đồng xét xử nhận thấy bị đơn đã sinh sống trên đất thời gian dài (từ 2010 đến nay), quá trình sinh sống có công chăm sóc khi cha, mẹ ốm đau bệnh tật đến khi cha, mẹ mất; thấy rằng khi cha, mẹ còn sống đều chia đất cho các con thừa hưởng, tuy nhiên phần của bị đơn đã bán hết, còn việc bị đơn chăm sóc cha, mẹ đó là nghĩa vụ bổn phận của con đối
5
với cha mẹ, ông H không có công chăm sóc nhưng đã bỏ tiền chăm lo khi cha mẹ đau ốm, bệnh tật đến khi mất, người bỏ công người bỏ của, không vì lý do chăm sóc cha, mẹ khi ốm đau bệnh tật mà bị đơn yêu cầu nguyên đơn cho lại một nền nhà để ở, do không còn chỗ ở nào khác, là không phù hợp, nên yêu cầu phản tố của bị đơn là chưa đủ căn cứ để chấp nhận.
Bị đơn trình bày không còn đất khác để di dời đi nơi khác, tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2025, ông Nguyễn Văn A trình bày trước đây vào năm 1990 đoạn đo đạc đất đã đo và cấp giấy đất nhằm cho ông Lương Văn H1 và ông Nguyễn Văn A, hiện phần diện tích đất cấp nhằm cho ông H1 còn ông A đã cất nhà ở từ năm 2005, còn phần đất cấp nhằm cho ông A có chiều ngang 3m chiều dài cặp lộ 30m hiện ông đã vẫn còn đang sử dụng. Vì vậy bị đơn cho rằng không còn đất khác để di dời là không đúng, bởi qua trình bày của ông A thì hiện ông Lương Văn H1 vẫn còn một phần đất bị đơn có thể thỏa thuận với các anh em yêu cầu ông A giao trả lại đất, nếu không thỏa thuận được thì phát sinh tranh chấp để được giải quyết theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, trong trường hợp cho ông T trả lại giá trị đất để được sử dụng phần diện tích đất yêu cầu tại vị trí A theo bản trích đo địa chính diện tích 118,4m² (gồm 76,8 m² đất cây lâu năm và 41,6 m² đất ODT) thì không đủ diện tích để tách thửa theo Quyết định số 20/2024/QĐ-UBND ngày 11/10/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố C quy định về điều kiện tách thửa, hợp thửa và diện tích tối thiểu tách thửa đất đối với từng loại đất, nên cũng không thể chấp nhận được.
3.2 Về tài sản trên đất:
- Về cây trồng: Qua xem xét thẩm định tại chỗ, nhận thấy trên đất có các loại cây trồng gồm dừa, vú sữa, chùm ruột, mít, bưởi, nhãn, tre và gáo. Nguyên đơn cho rằng cây chùm ruột là bị đơn trồng, còn lại là của cha mẹ. Phía bị đơn do làm ăn thất bại bị đơn bán phần đất cha mẹ cho để trả nợ, tuy nhiên các đương sự cũng không có gì chứng minh nguồn gốc của những cây trồng này
- Về công trình xây dựng trên đất: qua xem xét, thẩm định, trên đất có các công trình xây dựng gồm nhà chính, mái che nhà chính, nhà phụ, mái che cặp nhà phụ, nhà vệ sinh độc lập, nhà tắm độc lập và bồn nước.
Nguyên đơn cho rằng chỉ có nhà vệ sinh là do bị đơn xây dựng, những công trình xây dựng còn lại đều có từ trước. Phía bị đơn thừa nhận nhà chính, nhà tắm, bồn nước là của cha mẹ, còn lại do bị đơn xây mới hoặc sửa chữa, tuy nhiên các đương sự cũng không có gì chứng minh. Nên hội đồng xét xử căn cứ vào lời thừa nhận của các bên đương sự, người làm chứng để xem xét giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Lương Thành T3 là anh ruột của nguyên đơn và bị đơn, cũng là người sinh sống gần nơi có đất tranh chấp. Ông T3 cho biết những công trình xây dựng gồm nhà chính, nhà phụ, nhà tắm, bồn chứa nước, mái chái cặp nhà phụ là do ông Lương Văn H1 xây dựng, trong đó nhà phụ và mái chái cặp nhà phụ ông T có sửa chữa lại để sử dụng. Nhà vệ sinh do ông T xây dựng. Nhưng phần khác thì ông không rõ.
6
Về cây trồng trên đất thì ông T3 cho rằng ông T trồng chùm ruột, cây dừa nhỏ. Những cây trồng còn lại do ông Hai T5.
Vì vậy nếu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì cần thiết giao các loại cây trồng và tài sản của bị đơn trên đất cho nguyên đơn sử dụng để tránh lãng phí công dụng tài sản và buộc nguyên đơn có trách nhiệm trả lại giá trị cho bị đơn là phù hợp.
Các tài sản, cây trồng trên đất của bị đơn mà nguyên đơn, người làm chứng khai cơ bản thống nhất và được xem xét chấp nhận gồm:
- 42 cây chùm ruột loại A tương đương 23.142.000 đồng;
- 03 cây dừa loại C tương đương 1.425.000 đồng;
- 01 nhà vệ sinh độc lập tương đương 4.550.000 đồng các đương sự thỏa thuận mỗi bên chịu 50% giá trị tương ứng 2.275.000 đồng.
Các tài sản gồm nhà phụ và mái cháy cặp nhà phụ chỉ có cơ sở do ông T đã sửa chữa lại để sử dụng không phải xây dựng mới được ông T thừa nhận tại Biên bản hòa giải cơ sở 23/5/2024 (BL 38, 39) và tại phiên tòa, quá trình sử dụng thời gian dài, đã xuống cấp, hiện giá trị không đáng kể còn khoảng 30% theo định giá, vì vậy nghĩ giao cho ông Lương Ngọc H quản lý sở hữu mà không phải bồi hoàn là phù hợp.
[4] Về án phí và chi phí tố tụng:
[4.1] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí này. Nguyên đơn đã tạm ứng trước 5.900.000 đồng nên bị đơn có nghĩa vụ nộp trả lại cho nguyên đơn.
[4.2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí. Nguyên đơn phải chịu án phí trên số tiền có nghĩa vụ trả cho bị đơn, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[5]Xét đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 165, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 164, 166, 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
7
*Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Ngọc H.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lương Văn T.
1/ Công nhận thửa đất 1293, tờ bản đồ số 6, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CQ00364, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, được Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 07/12/2010, cho ông Lương Ngọc H đứng tên, thuộc quyền quản lý sử dụng của nguyên đơn ông Lương Ngọc H.
Buộc bị đơn ông Lương Văn T, bà Nguyễn Thị M và người liên quan Lương Ngọc T2, Lương Minh T1 có nghĩa vụ giao trả thửa đất 1293, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ cho nguyên đơn quản lý sử dụng.
Công nhận nguyên đơn Lương Ngọc H được quyền sở hữu các tài sản trên đất (ghi nhận tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt).
Buộc ông Lương Ngọc H có trách nhiệm trả lại giá trị tài sản cho các bị đơn gồm: 42 cây chùm ruột loại A, 03 cây dừa loại C và 50% giá trị nhà vệ sinh độc lập với tổng số tiền 26.842.000 đồng.
Vị trí, kích thước và hình thể thửa đất 1293 được thể hiện tại bản trích đo địa chính số 24/VPĐKĐĐ của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C - Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T6 nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố T6 đo vẽ ngày 14/01/2025 (có bản trích đo địa chính kèm theo). Cụ thể: Thửa 1293 có diện tích 940.6m², loại đất ODT +CLN (có 160m² ODT).
Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ hoặc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ00364 được Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 07/12/2010, cho ông Lương Ngọc H đứng tên. (nếu cần thiết)
Ông Lương Ngọc H được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, các chi phí phát sinh khi làm thủ tục cấp giấy do đương sự tự chịu.
2/ Về chi phí tố tụng và án phí:
- Chi phí tố tụng: Bị đơn có trách nhiệm nộp trả lại cho nguyên đơn số tiền 5.900.000 đồng (Năm triệu chín trăm ngàn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0005977, ngày 06/02/2025, tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt. (công nhận bị đơn đã nộp xong)
Nguyên đơn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm 1.342.100 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số
8
0005606, ngày 10/10/2024 và Biên lai thu tiền số 0002641, ngày 27/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, nguyên đơn còn phải nộp số tiền chênh lệch 742.100 đồng, tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4/ Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Việt Thắng |
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 52/2025/DS- ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 52/2025/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
