|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2025/DS-ST |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoàng Luân
- Ông Nguyễn Hữu Long
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Uyên Vy – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 362/2024/TLST-DS ngày 25/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST-DS ngày 11/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2025/QĐST-DS ngày 11/3/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: 266 – B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức danh: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thân Lê N, Giấy ủy quyền số 2001/2024/UQ-TGĐ ngày 03/4/2024 từ Công ty TNHH MTV Q nợ và khai thác tài sản ngân hàng S (Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản ngân hàng S được Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ủy quyền theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn: Bà Nguyễn Trúc M, sinh năm 1985
Địa chỉ: 1 (số mới 148/12/30/31/14) T, Phường H, Quận D, TP . Hồ Chí Minh.
Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) có ông Thân Lê N là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 06/01/2020, Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Trúc M đã ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể:
- Hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng;
- Mục đích sử dụng: tiêu dùng cá nhân;
- Lãi suất: 2,4%/tháng;
- Lãi suất quá hạn: 3,6%/tháng (= lãi suất trong hạn 2,4%/ x 150%).
Từ ngày 25/01/2020, Ngân hàng TMCP S đã cấp hạn mức tín dụng cho bà Nguyễn Trúc M theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, loại thẻ: Visa Classic, hạn mức được cấp: 50.000.000 đồng;
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Trúc M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo đúng cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết. Tạm tính đến ngày 10/4/2025, bà M còn nợ Ngân hàng với số tiền: 174.833.344 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 57.761.998 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 117.071.346 đồng.
Yêu cầu giải quyết:
Buộc bà Nguyễn Trúc M phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 10/4/2025 là 174.833.344 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 57.761.998 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 117.071.346 đồng.
Và kể từ ngày 11/4/2025, bà Nguyễn Trúc M còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận đã ký kết tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 06/01/2020 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
Bị đơn là bà Nguyễn Trúc M vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Bà M cũng không gửi văn bản có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án nên không thể thu thập ý kiến của bà M. Theo kết quả xác minh của Công an P, Quận D thì “Đương sự Nguyễn Trúc M, sinh năm: 1985 có HKTT và thực tế cư trú tại: 118/12/30/31/14 (số mới 148/12/30/31/14) T, Phường H, Quận D, TP . Hồ Chí Minh."
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Trúc M thanh toán số tiền nợ theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này sau đây viết tắt là Hợp đồng), nên có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng; bà Nguyễn Trúc M có hộ khẩu thường trú tại Quận D. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
[2] Về yêu cầu của đương sự: Do xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết
[2.1] Về hình thức của hợp đồng:
Căn cứ lời trình bày của đương sự, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 06/01/2020, bà Nguyễn Trúc M có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà M, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện, các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng đều đáp ứng đủ điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 91, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 17/2017/QH14Nội dung trong hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy Hợp đồng có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ chấp hành.
[2.2] Về quá trình thực hiện Hợp đồng: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Trúc M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết. Tạm tính đến ngày 10/4/2025, bà Nguyễn Trúc M còn nợ Ngân hàng với số tiền: 174.833.344 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 57.761.998 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 117.071.346 đồng.
Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện để yêu cầu bà M thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi là đúng theo quy định tại Điều 18, Điều 19, Điều 22 và Điều 24 của bản Điều khoản, điều kiện về việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
[2.3] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc, nợ lãi quá hạn:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, các tài liệu có trong hồ sơ như: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, bảng tóm tắt sao kê, đủ cơ sở xác định bà M còn nợ Ngân hàng tạm tính đến ngày 10/4/2025 với số tiền: 174.833.344 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 57.761.998 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 117.071.346 đồng.
Căn cứ vào Điều 18, Điều 19, Điều 22 và Điều 24 của bản Điều khoản, điều kiện về việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng có quyền yêu cầu chủ thẻ thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản dư nợ thẻ. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc và lãi tạm như trên là có cơ sở chấp nhận
Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu kể từ ngày 11/4/2025, bà Nguyễn Trúc M còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Yêu cầu này của Ngân hàng là phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và thỏa thuận giữa các bên nên có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí:
Do bà Nguyễn Trúc M có nghĩa vụ trả tiền nên bà M có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả. H lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc bà Nguyễn Trúc M thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tạm tính đến ngày 10/4/2025 là 174.833.344 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 57.761.998 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 117.071.346 đồng.
Kể từ ngày 11/4/2025 bà Nguyễn Trúc M còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận đã ký kết tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Trúc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.741.667 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.723.000 (Ba triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0006827 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Bích Phượng |
Bản án số 52/2025/DS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 52/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
