|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 52/2025/DS-ST Ngày: 09-6-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 338/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2025/QĐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu
Địa chỉ trụ sở: Số 442 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến Phát - Chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Xà Thị Bích Hà; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ ( theo Giấy ủy quyền số 1214/UQ-QLN.24 ngày 06/8/2024 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu và Giấy ủy quyền số 2175/UQ-QLN.24 ngày 22/11/2024 của Phó giám đốc phòng quản lý nợ Ngân hàng TMCP Á Châu); bà Hà có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng Linh, sinh năm 1974 và bà Lê Thị Phúc, sinh năm 1977; cùng địa chỉ cư trú: Kiệt 1120/H65/4 Tôn Đản, tổ 10, phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; ông Linh và bà Phúc vắng mặt lần thứ 2.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) là bà Xà Thị Bích Hà trình bày:
1. Về quan hệ cấp tín dụng: ACB cấp tín dụng cho ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc các hợp đồng tín dụng như sau:
- Hợp đồng tín dụng số HOC.CN.1701.031019 ngày 03/10/2019 và được giải ngân bằng khế ước nhân nợ số 01 (tài khoản vay số [...]) với số tiền cho vay là 250.000.000 đồng, mục đích cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm, thời gian cho vay từ ngày 06/10/2019 đến ngày 05/10/2019, Lãi suất cho vay trong hạn 11.5%/năm, cố định trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay, Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LS13+ 3.9%/năm, Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
- Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ký kết ngày 03/10/2019 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng, ngày 11/10/2019 ACB đã cấp thẻ tín dụng JCB Gold, hạn mức thẻ 50.000.000đồng, hiệu lực thẻ đến tháng 10/2022, lãi suất thẻ được quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng.
2. Biện pháp bảo đảm: Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông Lê Hoang Linh và bà Lê Thị Phúc đã thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1854, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 186085, số vào số cấp GCN số CH 02762 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/11/2011. Tài sản nêu trên thế chấp cho ACB căn cứ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số HỌC. BDCN.245.031019 ngày 03/10/2019, được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Hải Sâm ngày 03/10/2019, số công chứng 12019; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ngày 04/10/2019, số thứ tự 2411.
3. Vi phạm hợp đồng: Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ACB. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay và chuyển nợ quá hạn, thì: Ngày 28/10/2024, ACB ra thông báo thu hồi nợ trước hạn toàn bộ khoản vay và ngày 13/11/2024 đã chuyển toàn bộ nợ quá hạn đối với khoản vay. Ngày 20/10/2023, ACB chuyển nợ quá hạn đối với thẻ tín dụng.
2
4. Yêu cầu giải quyết: ACB đề nghị Tòa án tuyên:
- Buộc ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc trả ngay cho ACB tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 09/6/2025 là 170.529.941 đồng. Cụ thể:
+ Đối với Hợp đồng tín dụng số HOC.CN.1701.031019: 144.024.972 đồng. Trong đó, nợ gốc 127.103.000 đồng, lãi trong hạn 2.826.082 đồng, lãi quá hạn 13.699.582 đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 396.308 đồng.
+ Đối với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân: 26.504.969 đồng. Trong đó, nợ gốc 17.470.250 đồng, lãi quá hạn 9.034.719 đồng.
Phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, khế ước nhận nợ, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng kể từ ngày 10/6/2025 đến ngày trả hết nợ.
Nếu ông Lê Hòang Linh và bà Lê Thị Phúc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ gồm Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1854, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc.
* Quá trình giải quyết vụ án, tại bản khai, bà Lê Thị Phúc trình bày:
Bị đơn xác nhận có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Á Châu theo hợp đồng tín dụng số HOC.CN.1701.031019 ngày 03/10/2019 và được giải ngân bằng khế ước nhân nợ số 01 (tài khoản vay số [...]) với số tiền cho vay là 250.000.000 đồng và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ký kết ngày 03/10/2019 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng, ngày 11/10/2019 ACB đã cấp thẻ tín dụng JCB Gold cho vợ chồng bị đơn, hạn mức thẻ 50.000.000 đồng, hiệu lực thẻ đến tháng 10/2022; lãi suất, thời hạn vay, mục đích vay như đại diện Ngân hàng trình bày là đúng. Để đảm bảo cho khoản vay trên, bị đơn đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1854, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 186085, số vào số cấp GCN số CH 02762 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/11/2011.
Hiện nay, tính đến ngày 24/02/2025 bị đơn còn nợ Ngân hàng số tiền là 161.697.482 đồng, trong đó gồm vốn gốc 144.573.250 đồng, lãi trong hạn 2.826.082 đồng, lãi quá hạn 14.159.284 đồng, phạt chậm trả lãi 138.866 đồng.
Do vấn đề kinh tế, hoàn cảnh khó khăn nên dẫn đến việc vi phạm hợp đồng. Nay nguyên vọng của chúng tôi xin hỗ trợ thời gian và phương thức trả mỗi tháng trả 10.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết nợ.
3
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền thụ lý vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; về thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đối với nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn chưa tuân thủ đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
* Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á Châu đối với ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Á Châu tính đến ngày 09/6/2025 là 170.529.941 đồng. Trong đó, nợ gốc 144.573.250 đồng, lãi trong hạn 2.826.082 đồng, lãi quá hạn 22.734.301đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 396.308 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, khế ước nhận nợ, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng kể từ ngày 10/6/2025 đến khi trả hết nợ.
Trường hợp ông Lê Hòang Linh và bà Lê Thị Phúc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ gồm Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1854, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc
Các đương sự phải chịu án phí DSST và chi phí xem xét thẩm định theo quy định của pháp luật.
3. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2024 thì nguyên đơn Ngân hàng Á Châu yêu cầu bị đơn ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc thanh toán số tiền nợ vay theo các hợp đồng tín dụng, mục đích vay là tiêu dùng. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, quan hệ pháp luật là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng.
[2] Về thẩm quyền: Bị đơn có địa chỉ tại: Kiệt 1120/H65/4 Tôn Đản, tổ 10, phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[3] Bị đơn ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng lần thứ hai tại phiên tòa nhưng ông Linh bà Phúc vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc.
Về nội dung:
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á Châu đối với khoản tiền nợ gốc và nợ lãi:
[4.1] Căn cứ các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình như Hợp đồng cấp tín dụng số HOC.CN.1701.031019 ngày 03/10/2019, khế ước nhận nợ số 01, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định: Ngày 03/10/2019, ông Lê Hoàng Linh, bà Lê Thị Phúc và Ngân hàng TMCP Á Châu có ký kết Hợp đồng tín dụng số HOC.CN.1701.031019, khế ước nhận nợ số 01, giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với tổng số tiền vay 300.000.000 đồng (trong đó hạn mức thẻ tín dụng là 50.000.000 đồng), với mục đích vay là tiêu dùng, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự. Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với Điều 117 Bộ luật Dân sự và các Điều 23, 27 và 28 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch.
5
[4.2] Theo Hợp đồng cấp tín dụng số HOC.CN.1701.031019 ngày 03/10/2019 và khế ước nhận nợ số 01 thì số tiền vay là 250.000.000 đồng; mục đích cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm; thời gian vay 120 tháng; lãi suất cho vay trong hạn 11.5%/năm, cố định trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay; lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LS13+ 3.9%/năm, lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; thanh toán nợ gốc và lãi: trả đều hằng tháng. Đối với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ký kết ngày 03/10/2019 thì hạn mức thẻ 50.000.000 đồng, hiệu lực thẻ đến tháng 10/2022, lãi suất thẻ được quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng.
Đây là hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi và các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết đã ký kết. Tuy khoản vay trên chưa đến hạn, nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Linh và bà Phúc đã vi phạm phân kỳ trả nợ. Do đó, Ngân hàng Á Châu khởi kiện ông Linh và bà Phúc thanh toán toàn bộ số tiền nợ trước hạn là phù hợp với thỏa thuận của hai bên được quy định tại Điều 4 hợp đồng tín dụng và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
[4.3] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định ông Linh và bà Phúc còn nợ Ngân hàng Á Châu tính đến ngày 09/6/2025 là 170.529.941 đồng, trong đó nợ gốc 144.573.250 đồng, lãi trong hạn 2.826.082 đồng, lãi quá hạn 22.734.301đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 396.308 đồng và yêu cầu ông Linh và bà Phúc phải có nghĩa vụ trả số nợ trên là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với các điều khoản quy định trong hợp đồng tín dụng số HOC.CN.1701.031019 ngày 03/10/2019, khế ước nhận nợ số 01, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ký kết ngày 03/10/2019, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[5] Bà Lê Thị Phúc đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để ông bà trả dần mỗi tháng 10.000.000 đồng nhưng không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông Linh và bà Phúc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
[6.1] Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc đã thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1854, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 186085, số vào số cấp GCN số CH 02762 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/11/2011) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc. Tài sản nêu trên thế chấp cho ACB căn cứ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số HOC. BDCN.245.031019 ngày 03/10/2019, được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Hải Sâm ngày 03/10/2019, số công chứng 12019; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ngày 04/10/2019, số thứ tự 2411.
6
Hợp đồng thế chấp được ký kết dựa trên sự tự nguyện của các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, được đăng ký thế chấp theo quy định nên có hiệu lực thi hành theo quy định tại các điều 117, 298, 317, 318, 319 và 401 Bộ luật Dân sự.
[6.2] Tại biên bản ghi kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/3/2025 đối với tài sản thế chấp thể hiện: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1854, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 186085, số vào số cấp GCN số CH 02762 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/11/2011, trên đất không có xây dựng bất kì công trình nào, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường bê tông, phía Nam giáp đường đất, phía Đông giáp đất trống, phía Tây giáp đất trống.
[6.3] Trong trường hợp ông Linh và bà Phúc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp được xử lý theo quy định tại các điều 299, 320, 323 Bộ luật Dân sự để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng Á Châu theo quy định.
[6.4] Trường hợp ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Á Châu thì Ngân hàng Á Châu có nghĩa vụ trả lại cho ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 186085, số vào số cấp GCN số CH 02762 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/11/2011 đứng tên ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí:
[6.1] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Linh và bà Phúc phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.526.497 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6.2] Hoàn trả cho Ngân hàng Á Châu tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Linh và bà Phúc phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Buộc ông Linh và bà Phúc có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Á Châu số tiền 3.000.000 đồng mà Ngân hàng Á Châu đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
7
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các điều 26, 35, 39, 157,158, 227; 232, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các điều 117, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 398, 401, 463 và 466 Bộ luật Dân sự;
- - Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đối với ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
- Buộc ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu tổng số nợ tính đến ngày 09/6/2025 là 170.529.941 đồng (Một trăm bảy mươi triệu năm trăm hai mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi mốt đồng). Trong đó, nợ Hợp đồng tín dụng số HOC.CN.1701.031019: 144.024.972 đồng (nợ gốc 127.103.000 đồng, lãi trong hạn 2.826.082 đồng, lãi quá hạn 13.699.582 đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 396.308 đồng); nợ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân: 26.504.969 đồng (nợ gốc 17.470.250 đồng, lãi quá hạn 9.034.719 đồng).
- Ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng số HOC.CN.1701.031019 ngày 03/10/2019; khế ước nhận nợ số 01; giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ký kết ngày 03/10/2019; bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng kể từ ngày 10/6/2025 đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
- Trường hợp ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1854, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thôn Cẩm Toại Trung, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 186085, số vào số cấp GCN số CH 02762 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/11/2011 đứng tên ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc. Thửa đất có tứ cận như sau: Cạnh Bắc giáp đường bê tông, cạnh Nam giáp đường đất, cạnh Đông giáp đất trống, cạnh Tây giáp đất trống sẽ được xử lý theo yêu cầu của nguyên đơn để thu hồi nợ theo quy định tại các Điều 299, 303, 320, 322, 323 Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp ông Lê Hòang Linh và bà Lê Thị Phúc thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng ACB thì Ngân hàng ACB có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 186085, số vào số cấp GCN số CH 02762 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/11/2011, đứng tên ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc.
-
Án phí dân sự sơ thẩm và Chi phí tố tụng:
- Ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.526.497 đồng (Tám triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Á Châu 3.833.068 đồng (Ba triệu tám trăm ba mươi ba nghìn không trăm sáu mươi tám đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0009394 ngày 16/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Lê Hoàng Linh và bà Lê Thị Phúc phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Á Châu 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) tiền xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
9
Bản án số 52/2025/DS-ST ngày 09/06/2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 52/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP A và ông Lê Hoàng L bà Lê Thị P
