|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 52/2025/DS-PT Ngày 30-5-2025 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi
Các Thẩm phán:Ông Phạm Văn Toàn
Ông Nguyễn Anh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp về thừa kế tài sản
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 17/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 01/2025/QĐ-PT ngày 18/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 02/2025/QĐ-PT ngày 08/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 03/2025/QĐ-PT ngày 7/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Trọng Đ, sinh năm 1949
Địa chỉ: Khu G, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ. - Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1932
Địa chỉ: Khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Chị Trần Thị H1, sinh năm 1954, địa chỉ: Khu G, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Giấy ủy quyền ngày 04/4/2025). - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1933
Địa chỉ: khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. - Ông Trần Văn K, sinh năm 1940 (đã chết ngày 18/01/2025)
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông K: Bà Đào Thị Q, sinh năm 1936; chị Trần Thị N, sinh năm 1962, anh Trần Văn C, sinh năm 1965; chị Trần Thị T, sinh năm 1968; anh Trần Đình S, sinh năm 1971; anh Trần Đình Q1, sinh năm 1973; anh Trần Đình B, sinh năm 1983; anh Trần Đình V, sinh năm 1985. Đều có địa chỉ: khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ và chị Trần Thị S1, sinh năm 1976, địa chỉ: Khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1, bà Q, anh C, anh S, chị N, chị T, chị S1, anh Q1, anh B1, anh V: Bà Trần Thị Đ2, sinh năm 1952, địa chỉ: khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Các Giấy ủy quyền ngày 21/3/2025; 08/4/2025; 09/4/2025; 24/4/2025) - Bà Trần Thị Đ2, sinh năm 1952
Địa chỉ: khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. - Chị Trần Thị H1, sinh năm 1954
Địa chỉ: Khu G, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ. - Chị Trần Thị Thanh P, sinh năm 1965
Địa chỉ: Khu T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. - Chị Trần Thị Bích N1, sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu G, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ. - Chị Trần Thị Thúy N2, sinh năm 1972
Địa chỉ: khu B, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của chị N2: Anh Trần Đình K1, sinh năm 1980, địa chỉ: khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (Giấy ủy quyền ngày 04/4/2025). - Chị Trần Thị Loan T1, sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. - Anh Trần Đình K1, sinh năm 1980
Địa chỉ: khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. - Chị Phạm Thị D, sinh năm 1980
Địa chỉ: khu Xóm Chừa, xã Thụy Liễu, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
(Xã Thụy Liễu nêu trên nay là xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ)
- Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1933
Người kháng cáo: Bà Trần Thị H là bị đơn; Chị Trần Thị H1, chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1, anh Trần Đình K1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Trọng Đ trình bày: Bố ông là cụ Trần Văn H2 (sinh năm 1913, chết ngày 25/4/1966), mẹ ông là cụ Nguyễn Thị C1 (sinh năm 1910, chết ngày 29/5/2005). Cụ H2 và cụ C1 có 05 người con gồm: Bà Trần Thị Đ1, ông Trần Văn C2, ông Trần Văn K, bà Trần Thị Đ2 và ông là Trần Trọng Đ. Cụ H2 và cụ C1 không có con riêng, con nuôi nào khác.
Ông C2 (sinh năm 1933, chết ngày 14/12/1991), ông C2 có vợ là bà Trần Thị H và các con là chị Trần Thị H1, chị Trần Thị Thanh P, chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1 và anh Trần Đình K1, ông C2 không có con nuôi hay con riêng nào khác.
Bố mẹ ông có tài sản là đất tại khu A (nay là khu X), xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ, trên đất có 01 nhà gỗ bảy gian, nguồn gốc đất là do các cụ tổ tiên để lại. Năm 1966, cụ H2 chết thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Sau khi các anh chị em ông lập gia đình thì ra ở riêng, chỉ có vợ chồng ông C2 bà H ở trên thửa đất này. Từ những năm 1977 ông đã đón cụ C1 vào ở cùng ông tại huyện T để trông cháu, tuy nhiên cụ C1 vẫn có hộ khẩu thường trú tại khu X, xã T, cụ C1 vẫn thường đi về xã T và ở tại nhà của cụ và cụ H2 làm nên và ngôi nhà này còn có vợ chồng ông C2 bà H và các con ở trên đất này. Năm 1991, ông C2 chết. Năm 1999, bà H trực tiếp đi kê khai quyền sử dụng đất của cụ C1 và cụ H2 là 02 thửa đất liền kề nhau gồm thửa đất số 522 diện tích 922m² (trong đó 400m² đất ở, và 522m² đất vườn) và thửa đất số 531 diện tích 1262m² (đất vườn), đều thuộc tờ bản đồ số 06 (Bản đồ 299) tại khu A, nay là khu xóm C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Ngày 18/10/1999, bà H được UBND huyện S nay là UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 2 thửa đất này đứng tên hộ bà Trần Thị H. Việc bà H kê khai và được cấp GCNQSDĐ đối với 02 thửa đất này thì cụ C1 không biết.
Năm 2000, vợ chồng anh K1, chị D đã phá bỏ ngôi nhà gỗ và xây dựng 01 nhà xây cấp bốn, 01 bếp xây, sân, cổng đổ bê tông trên thửa đất số 522, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299), đã được Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Nay ông đề nghị chia thừa kế đối với 02 thửa đất số 522, diện tích 922m² (trong đó 400m² đất ở, và 522m² đất vườn) và thửa đất số 531 diện tích 1262m² (đất vườn); đều thuộc tờ bản đồ số 06 (Bản đồ 299) tại khu A, nay là khu xóm C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ theo pháp luật để có chỗ ở ổn định cuộc sống tuổi già.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/8/2024, bị đơn bà Trần Thị H trình bày:
Thửa đất số 522 và thửa đất số 531 đều thuộc tờ bản đồ số 06 (Bản đồ 299) tại khu 1 nay là khu xóm C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên bà. Nay bà đã già yếu nên ngày 09/11/2019 bà cùng các con bà làm biên bản họp gia đình, thống nhất giao 2 thửa đất này cho vợ chồng anh Trần Đình K1 và chị Phạm Thị D là con trai và con dâu bà. Nay bà vẫn giữ quan điểm cho vợ chồng anh K1, chị D 02 thửa đất này, nên bà không đồng ý chia di sản theo đề nghị của ông Đ.
Việc làm thủ tục để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất nêu trên do đã lâu nên bà không còn nhớ. Tại thời điểm bà được cấp đất cụ C1 có sống cùng bà hay không bà cũng không nhớ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn K, bà Trần Thị Đ2 và bà Trần Thị Đ1 cùng có quan điểm thống nhất trình bày: Mối quan hệ gia đình, nguồn gốc thửa đất 522, 531 tờ bản đồ số 06 (Bản đồ 299) tại khu 1 nay là khu xóm C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ như ông Đ trình bày là đúng. Việc bà Trần Thị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất này các ông bà đều không được biết. Nay ông Đ yêu cầu chia thừa kế thì các ông bà nhất trí chia thừa kế. Nếu các ông bà được nhận phần di sản thừa kế thì các ông bà đều để lại phần của mình được chia cho ông Đ và không yêu cầu ông Đ phải thanh toán giá trị phần được nhận cho ông bà.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Trần Đình K1 trình bày: Anh xác nhận về mối quan hệ gia đình và nguồn gốc thửa đất 522, 531 tờ bản đồ số 06 (Bản đồ 299) tại khu 1 nay là khu xóm C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ như ông Đ trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống, cụ H2, cụ C1, bố, mẹ anh và các chị của anh và anh cũng cùng ở trên 2 thửa đất này.
Ngày 18/10/1999, bà H được UBND huyện S (nay là huyện C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 02 thửa đất này và một số thửa đất ruộng. Việc bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp nên đây là tài sản của bố mẹ anh, không còn là tài sản của cụ H2 và cụ C1 nữa. Ngày 09/11/2019, gia đình anh gồm bà H cùng các chị của anh đều thống nhất lập “Biên bản họp gia đình” để giao toàn quyền sử dụng và định đoạt 02 thửa đất trên cho vợ chồng anh, nên 02 thửa đất đã thuộc quyền sử dụng của vợ chồng anh, anh không nhất trí chia thừa kế theo yêu cầu của ông Đ.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Phạm Thị D (là vợ anh K1) có quan điểm trình bày: Chị nhất trí với lời trình bày và đề nghị của anh K1. Kể từ khi vợ chồng anh chị kết hôn năm 1999 thì chị về ở trên thửa đất này cùng gia đình bà H. Năm 2000, do nhà gỗ bị hỏng, nên vợ chồng chị đã rỡ bỏ và xây dựng 01 nhà xây cấp bốn, 01 bếp xây, sân, cổng đổ bê tông. Đến năm 2019, mẹ chồng chị và các chị gái chồng đã họp gia đình và thống nhất giao toàn bộ hai thửa đất này cho vợ chồng chị được sử dụng. Nay ông Đ khởi kiện thì chị có quan điểm không nhất trí yêu cầu chia thừa kế tài sản của ông Đ.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị H1, Trần Thị Thanh P, Trần Thị Bích N1, Trần Thị Thúy N2 và Trần Thị L Trâmthống nhất trình bày: Thửa đất 522 và thửa đất 531 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Trần Thị H, là thuộc quyền sử dụng của bố mẹ các chị. Hiện nay trong gia đình đã làm biên bản họp gia đình, thống nhất cho anh Trần Đình K1 và chị Phạm Thị D được toàn quyền sở hữu sử dụng, nên các chị không nhất trí yêu cầu chia thừa kế của ông Đ.
Tại biên bản thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 22/4/2021 đã xác định: Thửa đất số 522, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) nay là thửa đất số 435, tờ bản đồ số 21 (bản đồ VN 2000) trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích là 922 m² (trong đó có 400 m² đất ở và 522 m² đất vườn), theo sơ đồ đo hiện trạng sử dụng đất ngày 22/4/2021 thì thửa đất trên có diện tích là 879,1 m²; Thửa đất số 531, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích là 1262 m² (đất vườn), theo sơ đồ đo hiện trạng sử dụng đất ngày 22/4/2021 thì thửa đất trên có diện tích là 1144,2m². Giá đất ở là 1.500.000đồng/1m², giá đất vườn là 300.000đồng/1m².
Thửa đất số 522 có các tài sản do vợ chồng anh K1, chị D tạo dựng trên đất gồm: 01 nhà xây cấp 4 diện tích 66m² (Xây dựng năm 2002) trị giá 66.000.000đồng, 01 bếp xây diện tích 29,1m² trị giá 11.640.000đồng, sân đổ bê tông 72m² trị giá 7.200.000đồng, cổng đổ bê tông sỏi diện tích 30m² trị giá 3.000.000đồng. Bờ tường xây đã hết khấu hao nên không định giá. Thửa đất số 531 không có công trình xây dựng.
Trên 2 thửa đất có các cây cối lâm lộc do anh K1 chị D trồng, các bên đều không đề nghị xem xét thẩm định và không yêu cầu định giá.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 2 điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 688; các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 616, 617, 618, 623, 649, điểm b khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 652, 653, 656, khoản 2 Điều 660 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm đ Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trọng Đ về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản đối với di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị C1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trong Đ3 đề nghị chia di sản của cụ Trần Văn H2.
- Chia di sản chia thừa kế của cụ Nguyễn Thị C1 diện tích 505,8m², trong đó 100m² đất ở và 405,8m² đất vườn, thuộc một phần thửa đất số 522, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) diện tích đo thực tế là 879,1 m² và thửa đất số 531, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) diện tích đo thực tế là 1144,20 m²; tại khu xóm C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
- Kỷ phần di sản ông Trần Trọng Đ được nhận 404.64 m² đất thổ cư. Trong đó 80m² đất ở x 1.500.000đồng/m= 120.000.000đồng và 324,64 m² đất vườn x 300.000 đồng/m² = 97.392.000đồng. Tổng cộng là 217.392.000đồng.
- Kỷ phần di sản vợ chồng anh Trần Đình K1 được nhận phần thừa kế thế vị của ông Trần Văn C2 là 101,16m² trong đó 20m² đất ở trị giá 30.000.000 đồng và 81,16 m² đất vườn trị giá 24.348.000 đồng. Tổng là 54.348.000 đồng.
- Giao cho ông Trần Trọng Đ trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích 152,6m² đất thổ cư, thuộc một phần thửa đất số 522, tờ bản đồ 06; ở khu xóm C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trong đó 100m² đất ở trị giá 150.000.000đồng và 52,6m² đất vườn trị giá 15.780.000 đồng. Tổng trị giá 165.780.000đ (Một trăm sáu mươi lăm triệu bẩy trăm tám mươi nghìn đồng).
- Giao cho anh Trần Đình K1 được trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích 353,16m² đất vườn trị giá 105.948.000đồng, tại thửa đất tại thửa đất số 522 tờ bản đồ 06; ở khu xóm C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Trần Trọng Đ phải thanh toán giá trị tài sản là cổng đổ bê tông sỏi 30m² trị giá 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
- Về nghĩa vụ thanh toán: Đối trừ nghĩa vụ, anh Trần Đình K1 phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho ông Trần Trọng Đ số tiền 48.612.000₫ (Bốn mươi tám triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng).
- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trọng Đ yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn H2.
Bản án còn tuyên về, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo:
Ngày 10/10/2024, bà Trần Thị H nộp đơn kháng cáo, do Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê không chia quyền sử dụng đất đầy đủ cho các con của bà. Đề nghị xét xử lại theo pháp luật.
Ngày 21/10/2024, chị Trần Thị H1, chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1, anh Trần Đình K1 kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm: Các đương sự đều giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Chị H1, chị N1 đều thừa nhận nguồn gốc di sản là của cụ H2 và cụ C1 để lại nhưng cụ C1 đã cho ông C2, bà H nên bà H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là tài sản của ông C2, bà H. Các chị đều không đồng ý chia di sản thừa kế. Chị T1 nhất trí với ý kiến của chị N1 không đồng ý chia di sản thừa kế. Anh K1 cũng không đồng ý chia thừa kế vì bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp, đây là tài sản của bố mẹ anh.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Về tố tụng Thẩm phán,Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng. Kháng cáo của bà H, chị H1, chị N1, chị N2, chị T1, anh K1 đều được thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã yêu cầu Hội đồng xét xử làm rõ về thời điểm tách hộ của các con bà H và 04 khẩu tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà H gồm những ai nhưng qua xét hỏi và tranh luận vẫn không làm rõ được nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ không phát biểu về nội dung giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bà Trần Thị H là bị đơn; Chị Trần Thị H1, chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1, anh Trần Đình K1 đều là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều được thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Bà Trần Thị H kháng cáo đề nghị xét xử lại theo pháp luật chia quyền sử dụng đất cho 04 con của bà. Chị Trần Thị H1, chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1, anh Trần Đình K1 kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trọng Đ đề nghị chia thừa kế tài sản của cụ H2 và cụ C1 để lại đối với thửa đất số 522 và thửa đất số 531; đều thuộc tờ bản đồ số 06 (Bản đồ 299); tại khu 1 nay là khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ thấy rằng:
Về nguồn gốc đất: Căn cứ đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 16/01/1999 do bà Trần Thị H kê khai; Căn cứ biên bản xác minh ngày 23/4/2021 tại UBND xã T và lời trình bày của các đương sự thì đều xác định được 2 thửa đất trên có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Trần Văn H2 và cụ Nguyễn Thị C1 làm nhà ở, sau đó vợ chồng ông C2 và bà H ở cùng và sinh sống trên thửa đất này.
Căn cứ kết quả xác minh ngày 23/4/2021 tại Ủy ban nhân dân xã T thể hiện: “Khi vợ chồng bà H kết hôn thì ở cùng cụ C1 và cụ H2 tại 02 thửa đất này. Năm 1999, khi kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thì bà H là người đi kê khai và cấp bìa...Hiện tại trên đất có nhà xây cấp 4 do bà H và anh K1 làm nhưng trước đó, trên đất có 01 ngôi nhà gỗ 05 gian của cụ C1 và cụ H2...”. Tại Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của bà Trần Thị H cũng có ghi về nguồn gốc sử dụng đất thổ cư, đất vườn là “Ông Cha”.
Về xác định quyền tài sản: Hộ gia đình bà Trần Thị H trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Căn cứ vào kết quả xác minh tại UBND xã T cung cấp: “Sổ tình hình cơ bản của hộ” thực hiện theo“Tổng điều tra nông thôn và nông nghiệp năm 1994” tại thôn A, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phú ngày 20/7/1994, trang 2, số thứ tự 119 thể hiện gia đình bà Trần Thị H có 04 khẩu, đang sử dụng 700 m² đất thổ cư; 550 m² đất vườn, 2674 m² đất trồng cây hàng năm do bà Trần Thị H đứng tên chủ hộ”. Căn cứ kết quả xác minh đã xác định được hộ bà Trần Thị H có 04 người được cấp đất nông nghiệp khi triển khai giao đất nông nghiệp theo khẩu quy định tại luật đất đai năm 1993.
Sau khi được giao đất, bà H là người trực tiếp đại diện hộ gia đình đã đứng ra kê khai đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù tại thời điểm kê khai, chỉ xác định trong khẩu có 04 người, không ghi rõ những người đó là ai. Căn cứ kết quả xác minh ngày 13/6/2024 tại UBND xã T thể hiện: “Tại trang 5, sổ địa chính, quyển 8, tổng hợp đợt 2” ngày 25/7/2003 lưu giữ tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ đã xác định cụ C1 đề nghị tách đất nông nghiệp từ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Trần Thị H vào năm 2004, diện tích 266 m² và được UBND huyện C chấp nhận. Việc UBND huyện C đồng ý cho cụ tách phần đất nông nghiệp theo khẩu cụ C1 được giao trong khẩu chung của gia đình bà H, thể hiện cụ C1 là một trong bốn thành viên trong hộ gia đình được công nhận quyền sử dụng đất trong đó có 02 thửa đất mà ông Đ đề nghị chia di sản thừa kế nêu trên. Không có văn bản nào thể hiện cụ C1 đã cho vợ chồng bà H toàn bộ các thửa đất nêu trên. Nên xác định cụ C1 vẫn có quyền sử dụng đất khi bà H đại diện cho hộ gia đình để đứng ra kê khai làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Mặc dù nguồn gốc các thửa đất thổ cư, đất vườn là của cụ C1 (cùng với cụ H2 trước đây), tức là cụ C1 có công sức lớn hơn trong việc tạo dựng quyền sử dụng đất so với các thành viên khác nhưng cấp sơ thẩm chỉ xác định các thành viên được kỷ phần bằng nhau và cụ Chỉ có ¼ tài sản trong thửa đất số 522 và thửa đất số 531 là có lợi cho bà H, các con của bà H.
Năm 2005, cụ C1 chết, tính đến thời điểm khởi kiện thì trong thời hạn 30 năm, còn thời hiệu chia di sản thừa kế nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Trần Trọng Đ chia di sản thừa kế của cụ C1 là phù hợp với pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, ông K, bà Đ1, bà Đ2 tại cấp sơ thẩm đã có quan điểm tự nguyện để cho ông Đ được hưởng phần di sản của các ông bà được nhận. Xét thấy đề nghị của ông K, bà Đ1 và bà Đ2 tại cấp sơ thẩm cho ông Đ là tự nguyện, không trái pháp luật nên cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp với pháp luật. Nay ông K đã chết, những người thừa kế của ông khoát cũng không có ý kiến, yêu cầu đề nghị gì khác. Còn chị H1, chị P, chị N1, chị N2, chị T1 và anh K1 có ý kiến không đồng ý chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, căn cứ quy định của pháp luật thì phải chia di sản thừa kế của cụ C1 cho các con, trong đó có ông C2, nhưng ông C2 chết trước nên các chị và anh K1 được hưởng thừa kế thế vị suất của ông C2. Căn cứ ý kiến của chị H1, chị P, chị N1, chị N2 và chị T1 thì nhất trí biên bản họp gia đình giữa bà H, các chị và anh K1 đồng ý để vợ chồng anh K1 chị D được toàn quyền sử dụng và định đoạt đối với 2 thửa đất trên. Vì vậy, cấp sơ thẩm giao cho vợ chồng anh K1, chị D được nhận phần di sản thừa kế thế vị của ông C2 là phù hợp với pháp luật.
Về kỷ phần di sản cụ C1 được nhận:
Thửa đất số 522 diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 922 m² (trong đó có 400 m² đất ở và 522 m² đất vườn), đo hiện trạng là 879,1 m² (giảm 42,9m²), trong đó có 400m² đất ở và 479,1m² đất vườn) và thửa đất số 531 diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1262 m² (đất vườn), nhưng đo hiện trạng là 1144,2 m² (giảm 121,8m²). Qua xác minh tại UBND xã T thì việc giảm diện tích đối với 2 thửa đất là do sai số đo đạc, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử căn cứ diện tích đất sử dụng thực tế để giải quyết.
Kỷ phần của cụ C1 chiếm ¼ diện tích đất của 02 thửa, tương đương với 505,8m² đất, trong đó 100m² đất ở và 405,8m² đất vườn (làm tròn).
Di sản của cụ C1 được chia cho 05 người con, mỗi người được 101,16 m² trong đó 20m² đất ở trị giá 30.000.000 đồng và 81,16 m² đất vườn trị giá 24.348.000 đồng. Tổng là 54.348.000 đồng.
Tuy nhiên, bà Đ1, ông K và bà Đ2 đều nhất trí cho ông Đ phần của mình. Vì vậy, ông Đ được hưởng 4/5 xuất thừa kế của cụ C1, tương đương 404,64m² (Trong đó 80m² đất ở x 1.500.000đồng/m² = 120.000.000 đồng và 324,64m² đất vườn x 300.000 đồng/m² = 97.392.000 đồng). Tổng cộng là 217.392.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, anh K1 và những người thừa kế thế vị của ông C2 cùng có quan điểm tài sản tranh chấp thuộc quyền sử dụng của cả vợ chồng anh K1, chị D. Tuy nhiên, căn cứ quy định về thừa kế thế vị thì chỉ con đẻ, con nuôi của người chết mới được hưởng di sản thừa kế thế vị. Nên chỉ anh K1 mới được hưởng 1/5 di sản của ông C2 là 101,16m² (trong đó 20m² đất ở trị giá 30.000.000 đồng và 81,16 m² đất vườn trị giá 24.348.000 đồng). Tổng là 54.348.000 đồng.
Xét nguyện vọng của ông Đ xin được nhận đất để có chỗ ở ổn định cuộc sống tuổi già thấy rằng: Nay ông Đ đã già, có nguyện vọng trở về địa phương sinh sống là nguyện vọng chính đáng. Vì vậy, căn cứ vào biên bản đo hiện trạng đo đất có thể chia được, cấp sơ thẩm giao cho ông Đ được thực tế sử dụng diện tích đã đo thực tế là 152,6m² là diện tích nhỏ hơn nhiều so với phần ông Đ được chia theo pháp luật. Để giảm số tiền phải thanh toán chênh lệch, cấp sơ thẩm giao cả 20m² đất ở anh K1 được nhận theo kỷ phần cho ông Đ được sử dụng để giảm số tiền anh K1 phải thanh toán cho ông Đ. Như vậy, cấp sơ thẩm giao cho ông Đ phần diện tích 152,6 m² đất thổ cư, phần diện tích đất này nằm hoàn toàn trên thửa đất số 522, tờ bản đồ số 06, (trong đó có 100m² đất ở và 52,6m² đất vườn) trị giá 165.780.000đồng là phù hợp với pháp luật.
Trong khi đó, theo kỷ phần ông Đ được nhận là 217.392.000 đồng. Vì vậy, anh K1 phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho ông Đ là 51.612.000 đồng. Tiếp tục đối trừ tài sản của anh K1 tạo dựng là cổng đổ bê tông sỏi diện tích 30 m² trị giá 3.000.000 đồng trên một phần đất giao cho ông Đ, nên ông Đ phải thanh toán toàn bộ giá trị tài sản này cho anh K1. Anh K1 còn phải thanh toán cho ông Đ số tiền 48.612.000 đồng.
Đối với phần tài sản của 03 người trong hộ bà H được quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đề nghị giải quyết chia tài sản tại cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không giải quyết là phù hợp với pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H là bị đơn; Chị Trần Thị H1, chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1, anh Trần Đình K1 đều là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị H, chị Trần Thị H1 đều được miễn án phí dân sự phúc thẩm vì đều là người cao tuổi.
Chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1, anh Trần Đình K1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Kiểm sát viên không phát biểu ý kiến, đề nghị giải quyết về nội dung của vụ án nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trần Thị H là bị đơn; Chị Trần Thị H1, Chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1, anh Trần Đình K1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị H, chị Trần Thị H1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm vì đều là người cao tuổi.
Chị Trần Thị Bích N1, chị Trần Thị Thúy N2, chị Trần Thị Loan T1, anh Trần Đình K1 mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
Xác nhận chị N1, chị N2, chị T1, anh K1 đã nộp mỗi người 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005013, 0005011, 0005012, 0005010 đều ghi ngày 28/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Chi |
Bản án số 52/2025/DS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 52/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Trọng Đ khởi kiện bà Trần Thị H về việc Thừa kế tài sản và được chấp nhận yêu cầu khởi kiện
