|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 52/2025/DS-PT Ngày 24 tháng 3 năm 2025 V/v“Kiện đòi tài sản là QSDĐ” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Thế Bình
Ông Ngô Xuân Ninh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2025/TLPT-DS ngày 05/02/2025 về “Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DSST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 92/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (đều vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Bị đơn: Bà Lê Thị T2, sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùy Duy H1, sinh năm 1952 (vắng mặt);
- Chị Bùi Thị H2, sinh năm 1983 (vắng mặt);
- Chị Bùi Thị H3, sinh năm 1986 (vắng mặt);
- Anh Bùi Văn H4, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của ông H1, chị H2, chị H3, anh H5 bà Lê Thị T2, sinh năm 1959 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H và bị đơn là bà Lê Thị T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
*Đại diện của nguyên đơn là ông Nguyễn Đức T1 trình bày: Ngày 23/5/2022, tại Văn phòng công chứng (viết tắt là VPCC) Hoàng Tình có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt là QSDĐ) giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng ông Vũ Văn T3 và bà Vũ Thị H6 với bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H, đối tượng chuyển nhượng là thửa đất số 31, tờ bản đồ 51, diện tích 418,2m² ở thôn Đ, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (viết tắt là thửa đất số 31), giá chuyển nhượng là 1.500.000.000đ, ông T bà H đã giao đủ số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng) cho ông T3 bà H6.
Hợp đồng được lập trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, cả bốn người đều có mặt và cùng ký tại VPCC H.
Sau khi chuyển nhượng ông T bà H đã làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đến ngày 02/6/2022, vợ chồng ông T4 Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận QSDĐ số DE764907, số vào sổ cấp GCN: CS 12037 đối với thửa đất số 31, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H.
Sau đó ông T bà H7 cầu ông T3 bà H6 bàn giao đất theo hợp đồng nhưng ông T3 bà H6 vẫn chưa bàn giao đất với lý do trên thửa đất có 01 ngôi nhà cấp 3 do vợ chồng bà Lê Thị T2 và ông Bùi Duy H8 đã xây dựng và ở trên đó. Ông T bà H không biết vợ chồng bà T2 ở nhờ của chủ đất cũ từ khi nào. Vì khi nhận chuyển nhượng giữa ông T bà H9 ông T3 bà H6 chỉ nhận chuyển nhượng đối với thửa đất trên, xác định không có nhà và không có cây cối lâm lộc trên đất. Ông T bà H đã yêu cầu gia đình bà T2 di dời nhà và tài sản trên thửa đất mà ông bà đã nhận chuyển nhượng của ông T3 bà H6 nhưng gia đình bà T2 không đồng ý và vẫn sinh sống trên thửa đất của vợ chồng ông bà.
Nay ông T bà H khởi kiện đề nghị Tòa án buộc gia đình bà T2 phải di dời toàn bộ tài sản và cây cối lâm lộc trên đất để trả lại thửa đất trên cho vợ chồng ông T bà H, nếu không di dời thì giao lại toàn bộ tài sản trên đất cho ông T bà H được sở hữu thì ông T bà H có trách nhiệm trả lại giá trị tài sản trên đất theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn là bà Lê Thị T2 trình bày: Thửa đất số 31 là do bà nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị H10 ngày 04/11/2010, đất đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mang tên bà.
Tháng 01/2011, do cần tiền kinh doanh nên bà có hỏi vay của vợ chồng ông Vũ Tài H11 và bà Nguyễn Thị M ở thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Bà không nhớ rõ số tiền vay là bao nhiêu vì khi đó bà vay tiền là tiền đô la Mỹ, lúc trả cả gốc và lãi là 546.000.000đ. Khi vay tiền hai bên có làm văn bản thỏa thuận là bà sang tên cho ông H11 bà M thửa đất số 31.
Đến tháng 4/2011, bà có xây dựng ngôi nhà 02 tầng 05 gian giả cổ. Bà có vay tiền của vợ chồng ông M1 bà N ở thôn H, xã T, huyện L để trả cho ông H11 bà M và chuộc lại giấy chứng nhận QSDĐ trên. Đến khi bà vay của ông M1, bà N để trả cho ông H11 và bà M thì tiền lãi là 3.000đ/1 triệu/1 ngày. Bà chỉ có ý định vay thời gian ngắn để thu xếp trả tiền cho ông M1 bà N để chuộc giấy chứng nhận QSDĐ về và bà có giao cho ông M1 giấy chứng nhận QSDĐ trên cùng hồ sơ treo ông H11 ký sẵn để làm thế chấp để vay tiền. Vì thế bà có làm văn bản thỏa thuận chuộc nhà giữa bà với ông H11 và văn bản thỏa thuận chuộc nhà giữa bà với ông M1.
Từ khi vay tiền của ông M1 bà N cho tới nay, ông M1 vỡ nợ không có mặt tại địa phương nên sự trả nợ của bà cho ông M1 chưa hoàn tất. Theo bà được biết thửa đất trên đã được chuyển nhượng cho ông T3 bà H6, ông T3 bà H6 đã chuyển nhượng cho ông T, bà H.
Nay ông T bà H yêu cầu Tòa án buộc bà và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải di dời toàn bộ tài sản và cây cối lâm lộc trên đất để trả lại thửa đất trên cho ông T bà H, nếu không di dời thì giao lại toàn bộ tài sản trên đất cho ông T bà H và ông T bà H có trách nhiệm trả lại giá trị tài sản trên đất thì bà không đồng ý.
Với nội dung trên Tòa án nhân dân huyện Lương Tài đã căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273, Điều 264, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 133, Điều 158, Điều 163, Điều 166 của Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H12 việc “Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất” đối với bị đơn là bà Lê Thị T2 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Duy H8, chị Bùi Thị H2, chị Bùi Thị H3 và anh Bùi Văn H4.
Buộc bà Lê Thị T2, ông Bùi Duy H8, chị Bùi Thị H2, chị Bùi Thị H3 và anh Bùi Văn H4 phải trả lại ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H quyền sử dụng thửa đất số 31. Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H được sở hữu các tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà cấp 03 loại 10, 01 mái lợp tôn, tường bao nhưng ông T và bà H phải có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị T2 số tiền 493.245.000₫ (Bốn trăm chín mươi ba triệu, hai trăm bốn mươi năm nghìn đồng) giá trị tài sản trên đất.
Bà Lê Thị T2 có trách nhiệm di dời các cây cối lâm lộc trên đất.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22/11/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị định giá lại tài sản trên đất.
Ngày 25/11/2024, bị đơn bà Lê Thị T2 kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và rút yêu cầu kháng cáo, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bà T2 đề nghị được chuộc lại thửa đất số 31 với giá 03 tỷ đồng nhưng đại diện nguyên đơn không đồng ý với lý do bà T2 nhiều lần đề nghị hòa giải nhưng sau đó lại thay đổi nhằm kéo dài quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu rút kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị H. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 03/2024/DSST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Án phí: Miễn án phí cho bà Lê Thị T2 vì là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H và bà Lê Thị T2 nộp trong thời hạn luật định nên được Tòa án xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại Điều 1 Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 23/5/2022, giữa bên chuyển nhượng là ông Vũ Văn T3 và bà Vũ Thị H6 với bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H, đối tượng chuyển nhượng là thửa đất số 31, không ghi nhận chuyển nhượng tài sản có trên đất.
Tương tự như vậy, các hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông H4 bà M với ông M1 bà N và giữa ông M1 bà N với ông T3 bà H6 chỉ là chuyển nhượng QSDĐ, không chuyển nhượng tài sản có trên đất.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H4 bà M, ông M1 bà N, ông T3 bà H6, ông T bà H đã làm đơn đăng ký biến động đất đai và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L xác nhận. Ngày 02/6/2022, Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh B đã cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H.
Xét thấy, tại thời điểm chuyển nhượng cũng như quá trình chuyển nhượng QSDĐ nêu trên, giữa các bên không phát sinh tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T2 xác định hợp đồng ban đầu giữa bà với ông H4 bà M là hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, khi chuyển nhượng bà hoàn toàn tự nguyện. Khi lập Văn bản thỏa thuận ngày 02/10/2012, giữa ông H4, anh M1 và bà T2 thì thửa đất số 31 đã đứng tên ông H4 trong giấy chứng nhận QSDĐ; trong Văn bản thỏa thuận ghi rõ người chuyển nhượng là ông H4, người nhận chuyển nhượng là anh M1.
Như vậy, tại thời điểm lập Văn bản thỏa thuận (ngày 02/10/2012), bà T2 đã thừa nhận quyền sử dụng thửa đất số 31 là của ông H4 và không có tranh chấp hoặc khiếu nại đối với việc ông H4 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà T2 với ông H4 đối với thửa đất số 31 là hợp pháp.
Mặt khác, tại Công văn số 230/CV-CNVPĐ KĐĐ ngày 31/10/2024 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã trả lời: “Do tài sản gắn liền với đất chưa thực hiện việc đăng ký, chưa được chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở nên không thể tham gia giao dịch. Việc thực hiện quyền chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị H10 (chủ sử dụng ban đầu) đến ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị H (chủ sử dụng cuối cùng) là đảm bảo quy định của pháp luật.”
Do đó, có căn cứ xác nhận việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông T bà H là đúng quy trình và hợp pháp.
Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm bà T2 không có đơn đề nghị xem xét đối với hợp đồng chuyển nhượng giữa bà với ông H4, các chứng cứ bà T2 cung cấp tại phiên tòa sơ thẩm có liên quan đến việc giao dịch dân sự vay mượn, thế chấp... giữa bà và ông H4, cũng như giữa bà và ông M1 bà N không liên quan đến vụ án dân sự này. Nếu bà T2 cho rằng ông H4, ông M1 bà N cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự cũng như các bên lập hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ giả tạo để che giấu việc vay tiền dẫn tới hậu quả như ngày hôm nay thì bà T2 có quyền khởi kiện ông H4 trong một vụ án khác (khi có đủ điều kiện). Do đó, bản án sơ thẩm không xem xét giải quyết các quan hệ pháp luật khác như bà T2 trình bày là phù hợp.
[2.2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H và bà Lê Thị T2 thì thấy:
Tại cấp phúc thẩm bà H rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bà H là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Vì vậy, cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà H.
Đối với kháng cáo của bà T2: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa và như đã phân tích tại mục [2.1] ở trên thì thửa đất số 31 là tài sản ông T bà H có được từ hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ hợp pháp nên thuộc quyền sử dụng của ông T bà H.
Đối với các tài sản trên đất: Do bà T2 tự xây dựng, khi xây dựng ông H4 ở nơi khác nên không biết, lẽ ra phải yêu cầu bà T2 phải phá dỡ. Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị giao cho nguyên đơn sử dụng toàn bộ công trình xây dựng trên đất. Xét thấy, đề nghị trên là chính đáng và không làm ảnh hưởng đến giá trị tài sản trên đất nên cấp sơ thẩm đã giao toàn bộ các công trình xây dựng trên đất cho nguyên đơn được sở hữu và buộc nguyên đơn phải trả bà T2 giá trị công trình xây dựng trên đất là phù hợp.
Đối với các cây cối, lâm lộc trên đất: Bà T2 đề nghị cho bà được di dời. Xét thấy, yêu cầu của bà T2 là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên cấp sơ thẩm đã chấp nhận là có căn cứ.
Bà T2 kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm không cung cấp được chứng cứ, tài liệu mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà T2. Vì vậy, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Lê Thị T2 do là người cao tuổi.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu rút kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 03/2024/DSST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận bà Nguyễn Thị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 0001273 ngày 22/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Lê Thị T2.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuyết Mai |
Bản án số 52/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 52/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tẹo - Lê Thị Thảo
