Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 52/2025/DS-PT

Ngày: 24-02-2025

V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản,

QSD đất và HĐCNQSD đất"

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Dũng

Bà Võ Bích Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Nguyễn Thị Thủy– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 492/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 532/2024/QĐPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Phạm Thị Kim E – sinh năm 1962; Cư trú: Khóm Đ, P. M, Tp., tỉnh An Giang.
  2. Bà Phạm Thị Ánh N – sinh năm 1967; Cư trú: Khu vực L, P. T, Q. T, Tp
  3. Bà Phạm Thị Ánh T – sinh năm 1969
  4. Bà Phạm Thị Ánh N1 – sinh năm 1978

Cùng cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp.Cần Thơ.

- Người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1972; cư trú: KV Q, P. T, Q. T, Tp. (Văn bản ủy quyền ngày 20/01/2025). Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà E, bà N, bà T và bà N1: Luật sư Vũ Ngọc C - Văn phòng L6, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Kim H (Hui) – sinh năm 1948; Cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp.Cần Thơ.

1

Người đại diện theo ủy quyền của bà H:

Ông Trần Thanh L - sinh năm 1969; Cư trú: Khu vực L, P. T, Q. T, Tp ..(Theo Giấy ủy quyền ngày 29/8/2024). Có mặt

Bà Trần Kim L1 – sinh năm 1968; Cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp.Cần Thơ (Theo Giấy ủy quyền ngày 31/12/2021). Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Kim H1 sinh năm 1951; Cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp.Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Nguyễn Thái T2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số B, đường số D, KDC H, P. A, Q. N, Tp. (Hợp đồng ủy quyền ngày 10/02/2025). Có mặt

  1. Bà Trần Kim L1 – sinh năm 1968; Cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp.Cần Thơ. Có mặt

Người đại diện theo ủy quyền của bà L1, bà H:

Ông Trần Lâm S – sinh năm 1961; Chỗ ở hiện nay: Số A - Đường B, Khu dân cư I, P. A, Q. N, Tp.. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 07/01/2025. Có mặt

- Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị H2, bà Trần Thị Kim H3, bà Trần Kim L1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, đại diện nguyên đơn là bà Phạm Thị Kim E, bà Phạm Thị Ánh N, bà Phạm Thị Ánh T và bà Phạm Thị Ánh N1 trình bày như sau:

Ông Phạm Thành L2 (chết năm 2004) và bà Lê Thị T3 (chết năm 2001) có tất cả 06 người con hiện đang còn sống gồm: bà Phạm Thị Kim E, bà Phạm Thị Ánh N, bà Phạm Thị Ánh T, bà Phạm Thị Ánh N1, bà Phạm Kim H1 và bà Phạm Thị Kim H (H).

Ông L2 và bà T3 chết có để lại khối di sản là quyền sử dụng đất các thửa số 382, 383, 384, 385, 386, có tổng diện tích theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cộng lại là 8.540,0 m², gồm 1.500,0 m² đất thổ cư (T) và 7.040,0 m² đất lâu năm khác (LNK); thuộc tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T (nay là Khu vực T, P. T, Q. T, Tp. Cần Thơ).

Trước đây, các thửa đất nói trên đều được kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất năm 1991 (giấy trắng) và sau đó cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 (giấy đỏ). Tuy nhiên, đến năm 1996, Ủy ban nhân dân quận T đã ban hành Quyết định thu hồi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 382, 383, 384, 385, 386 nói trên, do quy trình cấp giấy không đúng trình tự thủ tục quy định. Thế nên các thửa đất này đều còn là tài sản của ông Phạm Thành L2 và bà Lê Thị T3. Do ông L2 và bà T3 chết không để lại di chúc nên di sản phải được chia theo pháp luật.

2

- Qúa trình giải quyết, bị đơn là bà Phạm Thị Kim H có người đại diện trình bày như sau:

Vào năm 1980, ông Phạm Thành L2 có cho vợ chồng bà Phạm Thị Kim H và ông Trần Minh L3 một phần đất để cất nhà ở. Đến năm 1990 ông Trần Minh L3 kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất (giấy trắng), và đến năm 1995 được cấp đổi lại thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy đỏ) đối với thửa đất 386. Nhà đất hàng năm có đóng thuế đầy đủ cho nhà nước, có ranh mốc giới ổn định không tranh chấp.

Đối với phần đất hình cánh buồm có bề ngang mặt giáp Quốc lộ I là 5,1m, diện tích khoảng 100 m², không nằm trong bằng khoán ông Phạm Thành L2 và bằng khoán ông Trần Minh L3. Phần đất này trước đây là con mương của chủ đất khác chưa được cấp quyền sử dụng đất, ông L3 mua lại (trước khi có Luật đất đai) và cho con gái là Trần Kim L1 cất nhà ở từ năm 1988 đến nay, có đóng thuế đầy đủ cho nhà nước.

Theo Đơn yêu cầu bổ sung ngày 16/9/2024, bà Phạm Thị Kim H đề nghị bác đơn khởi kiện của các nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bà H yêu cầu giữ nguyên hiện trạng thửa đất 386 của ông Trần Minh L3 và phần đất ông L3 mua của người khác. Và yêu cầu được hưởng thừa kế theo kỳ phần của bà H đối với thửa đất 382 của ông L2 chết để lại.

- Theo Đơn yêu cầu độc lập và qúa trình giải quyết người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Kim H1 có người đại diện là bà Nguyễn Thị Bích T4 trình bày như sau:

Vào năm 1980, ông L2 có kêu bà H1 từ nơi khác về cất nhà ở trên phần đất hiện gia đình bà đang sử dụng tọa lạc tại Khu vực T, P. T, Q. T, Tp.Cần Thơ. Ngày 19/4/1984, ông L2 có lập “Tờ phân chia đất cho các con", cho 03 người gồm: bà Phạm Thị Kim H, bà Phạm Kim H1 và bà Phạm Thị Kim E, mỗi người 01 phần đất bề ngang 09 m, dài 25 m giáp mặt tiền Quốc lộ I. Khi đó bà E lấy chồng ở xa không có nhu cầu sử dụng đất nên đã thỏa thuận nhượng lại cho bà H1 phần đất được chia với giá tiền 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng), bà H1 đã giao đủ tiền được thể hiện tại “Tờ phân chia đất cho các con” có sự chứng kiến của các thành viên gia đình, và Tờ xác nhận (V/v mua bán đất đúng sự thật) được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 24/10/2005. Chữ ký của bà E trong “Tờ phân chia đất cho các con” cũng đã được cơ quan chức năng tiến hành giám định và kết luận là đúng chữ ký của bà E.

Kể từ sau khi phân chia, bà H1 đã sử dụng một phần đất tại thừa 383 và 384 cho đến nay. Tuy nhiên, sau đó ông L2 phân chia 05 thửa đất cho 05 người đứng tên, sự việc này bà H1 hoàn toàn không hay biết. Đến năm 1998, khi làm thủ tục cấp đổi giấy trắng sang giấy đỏ thì bà H1 mới biết.

Sau đó, bà H1 khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được giải quyết, Ủy ban nhân dân quận T đã ban hành Quyết định thu hồi giấy

3

chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 382, 383, 384, 385, 386 nói trên, do quy trình cấp giấy không đúng trình tự thủ tục quy định.

Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 30/8/2024, bà H1 yêu cầu:

+ Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà Phạm Kim H1 đối với kỳ phần thừa kế mà bà Phạm Thị Kim E được hưởng là phần đất diện tích 225 m² ODT + 1.209,967 m² CLN, do bà E đã chuyển nhượng cho bà H1 với giá 1.600.000 đồng theo “Tờ phân chia đất cho các con” ngày 19/4/1984.

+ Yêu cầu công nhận cho bà Phạm Kim H1 phần đất thổ cư được nhận theo tờ tương phân nêu trên (theo hiện trạng đo đạc tại vị trí B trên Bản trích đo địa chính số 329/TTKTTNMT ngày 05/4/2024). Và buộc bà Trần Kim L1 di dời tài sản tại vị trí C để giao trả lại bà H1 phần đất ngang 0,8 m x dài 24,40 m = 19,52 m². Tổng diện tích đất thổ cư bà H1 yêu cầu được hưởng là 450 m².

+ Đối với phần đất cây lâu năm đề nghị chia thừa kế theo pháp luật, bà H1 nhận 1.209,967 m² tiếp giáp phía sau đất thổ cư bà H1 đang sử dụng.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 2210/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

  • + Bà Phạm Thị Ánh N1 được chia thừa kế phần đất vị trí (A) + (G): Tổng diện tích 1.468,0 m² (gồm 250 m² đất ODT và 1.218,0 m² đất CLN).
  • + Bà Phạm Thị Ánh T được chia thừa kế phần đất vị trí (B) + (H): Tổng diện tích 1.410,5 m² (gồm 250 m² đất ODT và 1.160,5 m² đất CLN).
  • + Bà Phạm Thị Ánh N được chia thừa kế phần đất vị trí (C) + (I): Tổng diện tích 1.403,7 m² (gồm 250 m² đất ODT và 1.153,7 m² đất CLN).
  • + Bà Phạm Thị Kim E được chia thừa kế phần đất vị trí (D) + (J): Tổng diện tích 1.393,3 m² (gồm 250 m² đất ODT và 1.143,3 m² đất CLN).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Phạm Kim H1.

Bà Phạm Kim H1 được chia thừa kế phần đất vị trí (E) + (K): Tổng diện tích 1.460,0 m² (gồm 250,0 m² đất ODT và 1.210,0 m² đất CLN).

3. Bà Phạm Thị Kim H được hưởng thừa kế phần đất còn lại sau khi chia thừa kế cho các nguyên đơn và bà H1, cu thể là: Phần đất vị trí (F) + (L): Tổng diện tích 1.624,3 m² (gồm 250 m² đất ODT và 1.374,3 m² đất CLN).

4. Các phần đất vị trí (A), (B), (C), (D), (E), (F), (G), (H), (I), (J), (K) (L) tại các thửa đất số 382, 383, 384, 385, 386 - tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khu vực T, P. T, Q. T, Tp.Cần Thơ; được xác định theo Bản vẽ mô tả của Hội đồng xét xử và Bản trích đo địa chính Số 329/TTKTTNMT ngày 05/4/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (kèm theo Bản án này).

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

5. Về tài sản trên đất:

4

Tài sản nếu do ông Phạm Thành L2, bà Lê Thị T3 để lại thì người được chia thừa kế phần đất tương ứng sẽ được quyền sở hữu tài sản đó; còn nếu tài sản do đồng thừa kế này tạo lập mà nằm trên phần đất được chia cho đồng thừa kế khác thì chủ sở hữu có nghĩa vụ di dời để bàn giao đất nếu có yêu cầu. Riêng mồ mả trên đất thì nên ổn định theo tập quán.

Công nhận bà Phạm Thị Ánh N tự nguyện sẽ hỗ trợ chi phí di dời cho bà Phạm Kim H1 với số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) trong trường hợp bà Hòa đồng Ý di dời tài sản để bàn giao đất được chia cho bà N, bà E theo bản án này.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/11/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 05/11/2024, bị đơn bà Phạm Thị Kim H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L4 kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của bà H2.

Tại phiên Tòa phúc thẩm:

- Đại diện bị đơn bà H3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L4 cho rằng thực tế tài sản, tình trạng tài sản trên đất chưa xác định được. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp thừa kế từ tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với bà H2 từ năm 2006, bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã bị Tòa án nhận dân Tối cao hủy nhưng chưa giải quyết lại; ông Trần Văn L5 (đã chết) nhưng không đưa người thừa kế của ông L5 tham gia tố tụng, không đưa những người quản lý tài sản tranh chấp tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... Do đó, đề nghị hủy án sơ thẩm.

- Người đại diện hợp pháp của bà H2 cho rằng: việc tranh chấp đất đai giữa bà N, bà E với bà H2 đã bị Tòa án nhân dân Tối cao hủy từ năm 2013, tranh chấp thừa kế có liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất, nhưng cấp sơ thẩm chưa thụ lý giải quyết lại vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất là vi phạm khoản 4 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự; án sơ thẩm đưa thiếu những người đang quản lý, sử dụng đất tranh chấp tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chưa làm rõ những vấn đề được đề cập trong Quyết định giám đốc thẩm; Bản vẽ của Hội đồng xét xử chưa được công khai cho đương sự theo quy định; không buộc cụ thể những người có trách nhiệm di dời tài sản; phần mồ mã tuyên ổn định theo tập quán là chưa phù hợp... từ những vấn đề được nêu, đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm.

5

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn thống nhất bản án sơ thẩm, đồi với phần mồ mã chưa rõ thì đề nghị cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.

- Đại diện hợp pháp của các nguyên đơn cho rằng, năm 1991, ông L2 chia đất làm 05 phần thì giấy cho đất năm 1984 không còn giá trị. Do 05 giấy đất đã bị thu hồi nên toàn bộ 05 thửa đất là di sản của ông L2, bà T3, cấp sơ thẩm phân chia thừa kế theo pháp luật là phù hợp, đè nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người kháng cáo nộp đơn kháng cáo trong thời gian luật định nên xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Vào năm 2006, giữa bà N, bà Kim E với bà H2 có tranh chấp quyền sử dụng đất được Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt thụ lý và giải quyết. Tuy nhiên, qua hai cấp xét xử bị Quyết định giám đốc thẩm số 242/2013 của Tòa án nhân dân Tối cao đã tuyên hủy toàn bộ 02 bản án, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xét xử sơ thẩm lại theo đúng trình tự thủ tục. Tuy nhiên cho đến nay, Tòa án nhận dân quận T chưa thụ lý, giải quyết lại, chưa giải quyết vấn đến tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy theo quy định tại Điều 217 và Điều 267 Bộ luật dân sự.

Tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến vụ án tranh chấp thừa kế tài sản, nhưng các vi phạm được nêu ra tại Quyết định giám đốc thẩm, cấp sơ thẩm không khắc phục. Thửa đất 386 do ông Trần Văn L5 (đã chết) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng, nhwngc ấp sơ thẩm không đưa những người thừa kế của ông L5 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không đưa những người đang quản lý di sản tranh chấp tham gia tố tụng là vi phạm Điều 68, 73 74 Bộ luật tố tụng dân sự, ảnh hưởng nghiệm trọng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự. Ngoài ra, căn cứ theo Bản mô tả của Hội đồng xét xử tuyên các đương sự hưởng phần đất tương ứng, nhưng không thể hiện phần đất tại vị trí được hưởng thuộc thửa đất nào, ai là người phải di dời tài sản trả lại đất sẽ gây khó khăn trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đắt và thi hành án.

Từ những vi phạm nghiêm trọng nêu trên, đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt để giải quyết lại vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

6

[1] Bà H2, bà H3, bà L4 kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 3, 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét kháng cáo của bà H2, bà H3, bà L4, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2] Về thời hiệu khởi kiện chia thừa kê:

Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản của ông Phạm Thành L2 (chết năm 2004) và bà Lê Thị T3 (chết năm 2001) nên còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự.

[3] Về xác định hàng thừa kế:

Theo các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, có cơ sở xác định:

Ông Phạm Thành L2 (chết năm 2004) và bà Lê Thị T3 (chết năm 2001) có tất cả 06 người con hiện đang còn sống gồm: bà Phạm Thị Kim E, bà Phạm Thị Ánh N, bà Phạm Thị Ánh T, bà Phạm Thị Ánh N1, bà Phạm Kim H1 và bà Phạm Thị Kim H (Hui) nên hàng thừa kế thứ nhất của ông L2, bà T3 gồm có 06 người.

[4] Về xác định tài sản là di sản:

Theo nguyên đơn, ông L2 và bà T3 có một phần đất, sau đó kê khai chia cho các con đứng tên trong sổ mục kê ruộng đất, sổ đăng ký ruộng đất năm 1991, cụ thể:

  • - Thửa đất 386 diện tích 1.753m² đất LNK ông Trần Minh L3 (chồng bà H) đứng tên giấy chứng quyền sử dụng ruộng đất số 1479/GCN/RÐ, sau đó đổi lại và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000163 ngày 15/5/1995, thửa đất 383, diện tích 1.753m² (300m² đất T và 1.453m² đất CLN).
  • - Thửa đất 385 diện tích 1.528m² đất LNK do bà Phạm Kim H1 đứng tên giấy chứng quyền sử dụng ruộng đất số 4052/GCN/RĐ ngày 24/01/1991, sau đó đổi lại và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00058 ngày 30/5/1998, thửa đất 385, diện tích 1.528m² (300m² đất T và 1.228m² đất CLN).
  • - Thửa đất 384 diện tích 1.753m² đất LNK do bà Phạm Thị Kim E đứng tên giấy chứng quyền sử dụng ruộng đất số 4051/GCN/RĐ ngày 24/01/1991, sau đó đổi lại và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000214 ngày 15/5/1995, thửa đất 384, diện tích 1.753m² (300m² đất T và 1.453m² đất CLN).
  • - Thửa đất 383 diện tích 1.753m² đất LNK do bà Phạm Thị Ánh N đứng tên giấy chứng quyền sử dụng ruộng đất số 4049/GCN/RÐ, sau đó đổi lại và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000212 ngày 15/5/1995, thửa đất 384, diện tích 1.753m² (300m² đất T và 1.453m² đất CLN).
  • - Thửa đất 382 diện tích 1.753m² đất LNK do ông Phạm Thành L2 đứng tên giấy chứng quyền sử dụng ruộng đất số 4050/GCN/RÐ, sau đó đổi lại và được cấp

7

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000214 ngày 15/5/1995, thửa đất 384, diện tích 1.753m² (300m² đất T và 1.453m² đất CLN).

Do việc cấp giấy đất không đúng trình tự thủ tục nên Ủy ban nhân dân quận T thu hồi các giấy đất nêu trên vào năm 2016.

Các nguyên đơn cho rằng UBND quận T đã thu hồi tất cả các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên nên các thửa đất 382, 383, 384, 385, 386 là di sản của ông L2 và bà T3, do đó yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật.

Bà H3 cho rằng, vào năm 1980, ông Phạm Thành L2 có cho vợ chồng bà Phạm Thị Kim H và ông Trần Minh L3 một phần đất để cất nhà ở. Đến năm 1990 ông Trần Minh L3 kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất (giấy trắng), và đến năm 1995 được cấp đổi lại thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy đỏ) đối với thửa đất 386. Đối với phần đất hình cánh buồm có bề ngang mặt giáp Quốc lộ I là 5,1m, diện tích khoảng 100 m², không nằm trong bằng khoán ông Phạm Thành L2 và bằng khoán ông Trần Minh L3. Phần đất này trước đây là con mương của chủ đất khác chưa được cấp quyền sử dụng đất, ông L3 mua lại (trước khi có Luật đất đai) và cho con gái là Trần Kim L1 cất nhà ở từ năm 1988 đến nay, có đóng thuế đầy đủ cho nhà nước.

Theo bà H1, vào năm 1980, ông L2 có kêu bà H1 từ nơi khác về cất nhà ở trên phần đất hiện gia đình bà đang sử dụng. Ngày 19/4/1984, ông L2 có lập “Tờ phân chia đất cho các con”, cho 03 người gồm: bà Phạm Thị Kim H, bà Phạm Kim H1 và bà Phạm Thị Kim E, mỗi người 01 phần đất bề ngang 09 m, dài 30 m giáp mặt tiền Quốc lộ I. Khi đó bà E lấy chồng ở xa không có nhu cầu sử dụng đất nên đã thỏa thuận nhượng lại cho bà H1 phần đất được chia với giá tiền 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng), bà H1 đã giao đủ tiền được thể hiện tại “Tờ phân chia đất cho các con” có sự chứng kiến của các thành viên gia đình, và Tờ xác nhận (V/v mua bán đất đúng sự thật) được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 24/10/2005. Chữ ký của bà E trong “Tờ phân chia đất cho các con” cũng đã được cơ quan chức năng tiến hành giám định và kết luận là đúng chữ ký của bà E. Kể từ sau khi phân chia, bà H1 đã sử dụng một phần đất tại thửa 383 và 384 cho đến nay.

[4.1] Nhận thấy, Vào năm 2009, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xét xử vụ án dân sự sơ thẩm về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa bà N, bà Kim E với bà H1, có liên quan đến các thửa đất 383, 384, 385. Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vào năm 2010. Không đồng ý bản án phúc thẩm, đương sự khiếu nại giám đốc thẩm. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 242/2013 của Tòa án nhân dân Tối cao đã tuyên xử: Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 122/2010/DS-PT ngày 27/7/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2009/DSST ngày 08/4/2009 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xét xử sơ thẩm lại theo đúng trình tự thủ tục. Tuy nhiên cho đến nay, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt chưa thụ

8

lý, giải quyết lại, chưa giải quyết vấn đến tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy theo quy định tại khoản 4 Điều 217 và khoản 3 Điều 267 Bộ luật dân sự.

Việc tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến di sản thừa kế, tuy nhiên cấp sơ thẩm chưa làm rõ những vấn đề đã được chỉ ra trong bản án giám đốc thẩm, mà kết luận tòan bộ 05 thửa đất là di sản của cụ L2 và cụ T3 là chưa có cơ sở vững chắc. Cụ thể: Chưa làm rõ năm 1991 có đúng ông L2 chia đất cho các con hay không? Ai là người kê khai đất, có phải ông L2 tự kê khai hay không? Nếu là người khác thì ý kiến của ông L2 như thế nào? vì sao ông L2 chỉ kê khai thửa đất 282? Các thửa đất ai đang quản lý sử dụng? từ năm nào đến nay?...

Cấp sơ thẩm cũng chưa xác minh làm rõ vào năm 1990, địa phương có thông báo cho các hộ dân biết chủ trương kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không? Nếu biết chủ trương thì tại sao ông L2 chỉ kê khai thửa đất 282. Bà H1, ông L3 (chồng bà H3) ở trên đất từ thời gian nào, nếu đương sự kê khai đúng vị trí sử dụng thì có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không? Bà H1, ông L3 xây dựng nhà trên đất có ai khiếu nại hay không?.. từ đó làm căn cứ áp dụng để xác định quyền sử dụng đất được tặng cho có hợp pháp hay không, theo Án lệ số 03/2016, đây cũng là căn cứ xác định di sản của ông L2 và bà T3.

Cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế của người đang quản lý di sản.

Đối với phần đất mộ, cấp sơ thẩm nhận định ổn định theo tập quán là chưa phù hợp, bởi lẽ sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự được chia đất và việc thăm nom, thờ cúng khó khăn cho các đương sự khác. Nên cần xác định cụ thể diện tích khu mộ và giao cho một hoặc các đồng thừa kế quản lý.

[4.2] Theo thể hiện trong bản án phúc thẩm số 122/2010/DS-PT ngày 27/7/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, thửa đất 385, 384, 383 hiện do bà H1, ông Nguyễn Hiền Đ, ông Nguyễn Hiền H4, bà Nguyễn Thị Cẩm H5, ông Nguyễn văn H6 đang quản lý sử dụng, nhưng cấp sơ thẩm không đưa những người này tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng tố tụng quy định tại Điều 68, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tương tự, ông Trần Văn L5 (đã chết) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 286 (mặc dù đã thu hồi), cấp sơ thẩm không đưa những người thừa kế của ông L5, cũng như những người đang quản lý, sử dụng thửa đất 286 tham gia tố tụng là vi phạm nghiệm trọng, ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự này.

[5] Từ những những nhận định nêu trên, thấy rằng việc chứng minh và thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, cấp sơ thẩm cũng vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp cảu đương sự, Cần hủy bản

9

án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ để giải quyết lại vụ án.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị H2, bà Trần Thị Kim H3, bà Trần Kim L1

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ để giải quyết lại vụ án.

2. Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

Trả lại cho bà Trần Kim L1 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005789 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quyến

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/DS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp về thừa kế tài sản, qsd đất và hđcnqsd đất

  • Số bản án: 52/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, QSD đất và HĐCNQSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger