|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2025/DS-PT Ngày 20-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hùng
Bà Ngô Thị Kim Châu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 278/2024/TLPT-DS, ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do bản án sơ thẩm số 55/2024/DS-ST, ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 176/2024/QĐ-PT, ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 12/2025/QĐ-PT, ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lai Thị M, sinh năm 1960; cư trú tại số C, đường A, Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bị đơn:
- Anh Châu A L, sinh năm 1976 (có mặt)
- Chị Lý Thị H, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Cùng cư trú tại: Số G, đường A, Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của chị H: Anh Châu A L, sinh năm 1976; cư trú tại: Số G, đường A, Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 23/9/2024” (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Thạch Văn T, là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).
- Người kháng cáo: Anh Châu A L và chị Lý Thị H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 12 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 30 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Lai Thị M trình bày: Ngày 04/11/2017 âl, bà làm đầu thảo một dây hụi, loại hụi 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), gồm 28 phần, mỗi tháng mở hụi một lần. Anh L và chị H tham gia 01 phần và được lĩnh tiền hụi ở kỳ mở lần thứ 12 (Ngày 04/10/2018 âl). Sau đó, anh L và chị H góp tiền hụi cho bà đến kỳ mở hụi lần thứ 22 (Ngày 04/8/2019 âl) thì không góp nữa. Dây hụi này, anh L và chị H còn thiếu nợ tiền góp hụi cho bà 0 (Sáu) lần bằng 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Đến ngày 12/5/2018 âl, bà tiếp tục làm đầu thảo một dây hụi, loại hụi 20.000.000 đồng (Hai mười triệu đồng), gồm 24 phần, mỗi tháng mở hụi một lần. Anh L và chị H tham gia 01 phần và được lĩnh tiền hụi ở kỳ mở lần thứ 12 (Ngày 12/4/2019 âl). Sau đó, anh L và chị H góp tiền hụi cho bà đến kỳ mở hụi lần thứ 16 (Ngày 12/8/2019 âl) thì không góp nữa. Dây hụi này, anh L và chị H còn thiếu nợ tiền góp hụi cho bà 01 (T1) lần bằng 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Nay, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh L và chị H có nghĩa vụ trả tiền góp hụi cho bà tổng cộng hai dây hụi bằng 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng), không yêu cầu trả tiền lãi.
Theo bị đơn anh Châu A L và chị Lý Thị H trình bày: Anh, chị không có tham gia các dây hụi do bà M làm đầu thảo. Tuy nhiên, anh, chị thừa nhận các giọng nói trong các đoạn ghi âm mà bà M lập vi bằng và cung cấp cho Tòa án, là giọng nói của anh, chị. Nhưng đó là nội dung anh, chị cam kết với bà M về việc trả nợ cho bà M thay cho mẹ anh L (Bà Trịnh Huệ H1 đã chết). Vì vậy, anh, chị không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà M.
Tại bản án sơ thẩm số 55/2024/DS-ST, ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lai Thị M.
Buộc anh Châu A L và chị Lý Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Lai Thị Mỹ T2 góp hụi còn nợ bằng 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: Buộc anh Châu A L và chị Lý Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 22.400.000 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/10/2024, anh Châu A L và chị Lý Thị H làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, vì số tiền này là số tiền anh L và chị H cam kết trả nợ thay cho bà H1 và đã được Tòa án xét xử xong.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Khi bà M làm đơn khởi kiện thì bà M không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh anh L và chị H có tham gia góp hụi do bà M làm đầu thảo. Trong danh sách hụi chỉ có bà H1 (Mẹ anh L) tham gia và đã được Tòa án xét xử xong. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh L và chị H, sửa bản án sơ thẩm, không buộc anh L và chị H trả tiền góp hụi cho bà M.
Quan điểm của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Anh L và chị H kháng cáo cho rằng số tiền bằng 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng) mà Tòa án sơ thẩm xét xử buộc anh L và chị H trả cho bà M là tiền hụi mà bà H1 nợ bà M và đã được xét xử xong. Tuy nhiên, các bản án trước đây chưa xét xử khoản tiền này, mà chỉ buộc bà H1 trả cho bà M 02 phần hụi, trong khi danh sách hụi bà H1 tham gia đến 03 phần. Khi bà M cung cấp tờ vi bằng trích xuất từ đoạn ghi âm giọng nói của anh L và chị H, có nội dung anh L và chị H thừa nhận có tham gia góp hụi do bà M làm đầu thảo và còn thiếu nợ tiền góp hụi của bà M. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh L và chị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Nguyên đơn bà Lai Thị M khởi kiện cho rằng, các bị đơn anh Châu A L và chị Lý Thị H có tham gia hai dây hụi do bà M làm đầu thảo. Sau khi anh L và chị H được lĩnh tiền hụi, thì anh L và chị H thực hiện nghĩa vụ góp tiền hụi cho bà M không đầy đủ, còn nợ tiền góp hụi cho bà M hai dây hụi tổng cộng bằng 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng).
[2] Khi khởi kiện, bà M cung cấp kèm theo sổ hụi mở ngày 04/11/2017 âm lịch (Nhằm ngày 21/12/2017 dương lịch) và sổ hụi mở ngày 12/5/2018 âm lịch (Nhằm ngày 25/6/2018 dương lịch) (BL 05, 06). Mặc dù, trong danh sách hụi viên trong hai sổ hụi do bà M cung cấp cho Tòa án sơ thẩm không có tên của anh L và chị H là thành viên tham gia góp hụi, nhưng có tên Thiếm B (Tức bà H1 mẹ của anh L) tham gia mỗi dây hụi là 03 phần. Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án sơ thẩm, anh L và chị H không thừa nhận có tham gia hai dây hụi mà bà M khởi kiện. Khi bà M cung cấp vi bằng trích xuất từ đoạn ghi âm cuộc nói chuyện điện thoại giữa bà M với anh L và chị H, có nội dung chị H nói “Cô cắt ngang, cô không cho tụi con chơi hụi nữa, bây giờ tụi con không có khoản để quay, hụi tụi con chơi, con gắng đóng cho cô cho tròn hết...;bây giờ cô chậm cho con một tháng nữa đi, con đem máy, cẩu máy đàng hoàng, đem ra ngoài rồi con bơm rồi con đóng cho cô đàng hoàng hết, đóng hụi hết luôn...” (BL 53, 54). Khi Tòa án sơ thẩm tiến hành đối chất nội dung đoạn ghi âm này, anh L và chị H thừa nhận giọng nói là của anh L và chị H, nhưng lúc này chị H lại khai rằng nội dung đó là chị H hứa góp tiền hụi cho bà M thay cho bà H1 là mẹ ruột của anh L (BL 82). Như vậy, lời khai của anh L và chị H không ổn định, luôn thay đổi nhằm trốn tránh nghĩa vụ.
[3] Khi Tòa án sơ thẩm xét xử buộc anh L và chị H có nghĩa vụ trả tiền hụi cho bà M bằng 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng), thì anh L và chị H kháng cáo cho rằng, số tiền này là tiền anh L cam kết với bà M để trả nợ thay cho bà H1 và số tiền này đã được Tòa án giải quyết xong. Tuy nhiên, theo nội dung vi bằng trích xuất đoạn ghi âm thì chị H nói “Bởi vậy con, con nói vợ chồng con hỏng có để, để mà cô buồn phiền là gì hết chơn, giá nào cũng phải đóng cho cô đàng hoàng cho hết. Bây giờ nếu mà tụi con không làm cái này, con đâu có tiền đâu mà đóng cho cô... nếu mà có khả năng, con phụ má con trả tiền cho cô nữa...ông L ổng nói chuyện với cô để ổng, ổng mà có ổng phụ với má con trả tiền cho cô đàng hoàng, hỏng để cho cô ấy đâu” (BL 54).
[4] Mặt khác, theo Bản án phúc thẩm số 78/2024/DS-PT, ngày 03-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà M với bà H1 (Mẹ anh L) thì dây hụi mở ngày 04/11/2017 âm lịch, loại hụi 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), gồm 28 phần, bà H1 (Mẹ anh L) tham gia 01 phần và được lĩnh tiền hụi ở kỳ mở lần thứ 06 (Ngày 04/4/2018 âl). Bà H1 còn nợ tiền góp hụi cho bà M bằng 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng). Dây hụi mở ngày 12/5/2018 âm lịch, loại hụi 20.000.000 đồng (Hai mười triệu đồng), gồm 24 phần, bà H1 tham gia 02 phần và được lĩnh tiền hụi ở kỳ mở lần thứ 01 và lần thứ 02 (Ngày 12/5/2018 âl và ngày 12/6/2018 âl). Bà H1 còn nợ tiền góp hụi cho bà M bằng 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) (BL 61, 62).
[5] Trong vụ án này, bà M khởi kiện yêu cầu anh L và chị H trả cho bà M 01 phần hụi, loại hụi 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) mà anh L và chị H chưa góp tiền hụi cho bà M 06 (Sáu) lần bằng 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Và 01 phần hụi, loại hụi 20.000.000 đồng (Hai mười triệu đồng) mà anh L và chị H chưa góp tiền hụi cho bà M 08 (T1) lần bằng 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Đối chiếu, so sánh các phần hụi và số tiền bà M khởi kiện bà H1 theo Bản án phúc thẩm số 78/2024/DS-PT, ngày 03-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh với các phần hụi và số tiền bà M khởi kiện anh L và chị H trong vụ án này, là hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, anh L và chị H kháng cáo cho rằng số tiền 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng) mà Tòa án sơ thẩm xét xử buộc anh L và chị H trả cho bà M, là khoản tiền do anh L cam kết với bà M để anh L trả nợ cho bà M thay cho bà H1 và số tiền này đã được Tòa án xét xử xong, là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Xét thấy, quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh L và chị H, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh L và chị H, sửa bản án sơ thẩm, không buộc anh L và chị H trả tiền hụi cho bà M bằng 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng), là không có căn cứ.
[7] Xét thấy, quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh L và chị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm, là có căn cứ.
[8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của anh L và chị H không được Tòa án phúc thẩm chấp nhận, nên buộc anh L và chị H, mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh L và chị H, mỗi người đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo các biên lai thu số 0002607 và 0002608, ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Châu A L và chị Lý Thị H.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 55/2024/DS-ST, ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lai Thị M.
2. Buộc anh Châu A L và chị Lý Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Lai Thị M số tiền góp hụi còn nợ bằng 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí: Buộc anh Châu A L và chị Lý Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 22.400.000 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Buộc anh Châu A L và chị Lý Thị H, mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh Châu A L và chị Lý Thị H, mỗi người đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo các biên lai thu số 0002607 và 0002608, ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
Bản án số 52/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 52/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa Lai Thị M với Châu A L
