Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/DS-PT

Ngày 10/6/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình và bà Cao Thị Thanh Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 63/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Á, sinh năm 1940; trú tại: Tổ C, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • - Bị đơn: Bà Đỗ Thị Ú (tên gọi khác D1), sinh năm 1970; trú tại: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Trần Văn L, sinh năm 1967; trú tại: Tổ C, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
    • Ông Trần Hữu B, sinh năm 1974; trú tại: Tổ C, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
    • Bà Trần Thị H, sinh năm 1971; trú tại: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • * Người đại diện theo ủy quyền của bà Á, ông L, ông B và bà H: Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1987; trú tại: Tổ C, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai (Theo giấy ủy quyền ngày 20/5/2025). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1 Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu N trình bày:

Ngày 29/9/2022 âm lịch, cha chồng của chị N là ông Trần Hữu Đ cho bà Đỗ Thị D (tên thật là Đỗ Thị Ú) mượn số tiền là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng). Nay ông Trần Hữu Đ đã chết, nhưng bà Ú chưa trả nợ cho ông Đ nên nguyên đơn là bà Lê Thị Á (vợ của ông Đ) yêu cầu bà Ú phải trả số tiền còn nợ là 30.000.000đ, không yêu cầu trả tiền lãi.

1.2 Bị đơn chị Đỗ Thị Ú (tên gọi khác D1) trình bày:

Vào ngày 29/9/2022 âm lịch, bà Ú có vay của ông Trần Hữu Đ số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), khi vay tiền bà Ú có viết giấy nợ số tiền 30.000.000đ ký tên thường gọi là Đỗ Thị Dư . Bà Ú đã trả nợ cho ông Đ nhiều lần, đến cuối năm 2023 trả 15.000.000đ là hết số tiền đã vay. Bà Ú có nói ông Đ đưa lại giấy nợ gốc, nhưng ông Đ nói tìm chưa có nên chưa đưa lại cho bà Ú. Bà Ú đã trả đủ cho ông Đ số tiền đã vay là 30.000.000đ nên không đồng ý trả số tiền như yêu cầu khởi kiện của bà Á.

1.3 Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L, ông Trần Hữu B và bà Trần Thị H:

Đồng ý với ý kiến trình bày của nguyên đơn.

2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 235, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Á.

  • - Buộc bà Đỗ Thị Ú phải trả cho bà Lê Thị Á số tiền gốc còn nợ là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.

3. Về kháng cáo, kháng nghị:

Ngày 6 tháng 3 năm 2025, bị đơn bà Đỗ Thị Ú có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • - Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.

Bản án không bị kháng nghị.

4. Diễn biến tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới. Bị đơn xác định bà đã trả nợ cho ông Đ, tuy nhiên không có giấy tờ gì chứng minh, cũng không có người chứng kiến.
  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến.
  • - Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Đỗ Thị Ú phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.

[2]. Xét kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị Ú về việc yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án cấp sơ thẩm theo hướng sửa bản án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại hồ sơ vụ kiện, nguyên đơn bà Lê Thị Á cung cấp “Giấy mượn tiền” đề ngày 29/9/2022 âm lịch có chữ ký và ghi tên dưới mục “người vay” Đỗ Thị D1 với số tiền 30.000.000₫ (BL24). Bà Ú thừa nhận chữ ký Đỗ Thị D1 là của bà và cùng thừa nhận tên D1 là tên gọi khác của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà trình bày có vay của ông Đ số tiền 30.000.000đ, đã trả hết nợ cho ông Đ vào nhiều lần và đến cuối năm 2023 bà trả 15.000.000đ là đã trả hết khoản nợ. Tuy nhiên, bà không lấy lại giấy nợ gốc và tại phiên tòa phúc thẩm bà Ú khẳng định việc trả nợ không có ai làm chứng mà chỉ có bà và ông Đ biết nên lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận.

Do bị đơn không cung cấp được các chứng cứ để khẳng định việc trả nợ của mình nên không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị Ú, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về lãi suất nguyên đơn không có yêu cầu nên cấp phúc thẩm không xem xét.

[3]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Đỗ Thị Ú phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 235, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị Ú.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Lê Thị Á với bị đơn là bà Đỗ Thị Ú.

3. Tuyên Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Á.

  • - Buộc bà Đỗ Thị Ú (tên gọi khác D1) phải trả cho bà Lê Thị Á số tiền gốc còn nợ là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Về án phí: Buộc bà Đỗ Thị Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Bà Lê Thị Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về án phí phúc thẩm: Bà Đỗ Thị Ú phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 006528 ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thị xã An Khê;
  • - VKSND thị xã An Khê;
  • - Chi cục THA dân sự thị xã An Khê;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/DS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 52/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị Ú
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger