TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BẢN ÁN SỐ: 52/2024/HS-ST NGÀY: 06/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng
Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thiều Quang – Trưởng phòng Giáo dục đào tạo huyện Lạng Giang và Ông Lê Văn La – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên Tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lạng Giang. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Ngọc S, sinh ngày 26/5/2007.
Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện L, Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Bố đẻ: Lương Xuân Đ, sinh năm 1976; Mẹ đẻ: Đặng Thị H, sinh năm 1976; Gia đình có 02 chị em, bản thân là thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương - (Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
- Bà Đặng Thị H, sinh năm 1976 – (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện L, Bắc Giang. - Ông Lương Xuân Đ, sinh năm 1976 – (Có mặt).
Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Nhà trường Phổ thông Trung học L số 2:
Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1988 là giáo viên chủ nhiệm lớp 10A4 Trường P1 – (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo S:
Ông Hoàng Trọng N, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B – (Vắng mặt).
2. Người bị hại:
Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1989 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện L, Bắc Giang.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Dương Thanh T, sinh năm 1982 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bà Đặng Thị H, sinh năm 1976 – (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện L, Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Ngọc S, sinh ngày 26/5/2007, trú tại thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang là học sinh Trường trung học phổ thông L số 2. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 02/4/2024, sau khi tan học S đi về nhà, khi đi qua cửa hàng mua, bán điện thoại biển hiệu “Tùng Hương” ở thôn C, xã Q do chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1989 trú tại thôn C, xã Q, huyện L làm chủ, S nhìn thấy không có ai trông coi thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. S vào trong cửa hàng, đi đến khu vực bàn thu ngân (đối diện cửa ra vào). Tại đây, S cúi người qua mặt bàn, kéo ngăn kéo bàn ở mặt phía bên trong bàn thu ngân thì thấy trong ngăn kéo chị H2 để một cọc tiền với tổng số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) gồm các tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 200.000 đồng và 500.000 đồng, được xếp ngay ngắn, buộc bằng dây nịt, S dùng tay phải lấy toàn bộ số tiền trên, đóng ngăn kéo lại như ban đầu rồi đút số tiền trộm cắp được vào túi áo khoác bên phải của mình. Sau đó, ông Dương Thanh V, sinh năm 1952 (bố chồng chị H2) đi từ trong nhà ra, thấy vậy S lấy ra 100.000 đồng từ số tiền trộm cắp được trả ông V để mua 01 (một) thẻ cào V1 mệnh giá 100.000 đồng rồi đi ra ngoài cửa hàng nạp vào sim điện thoại để đăng ký mạng. Trên đường về S đi vào cửa hàng mua, bán điện thoại biển hiệu “Phúc Vân” do anh Phạm Văn P, sinh năm 1980, trú tại thôn C, xã Q làm chủ, lấy ra thêm 100.000 đồng từ số tiền trộm cắp được để nạp tiền vào sim điện thoại rồi đi thẳng về nhà. Khi về đến nhà, S đem số tiền 8.800.000 đồng còn lại lên phòng ngủ của S cất giấu trên mặt bàn học, sử dụng sách vở đè lên.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 14/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố Lương Ngọc S phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện VKSND Huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Lương Ngọc S từ 06 đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị HĐXX xử lý về vật chứng và án phí của vụ án.
- Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người đại diện cho bị cáo là bà Đặng Thị H và ông Lương Xuân Đ đều xác nhận lời khai của bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội tiếp tục được đi học, trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội.
- Đại diện nhà trường cô giáo Nguyễn Thị Thu H1 trình bày: Lương Ngọc S là học sinh của lớp do cô chủ nhiệm, trong lớp học S học chăm chỉ luôn đạt học sinh tiên tiến, không nghịch ngợm hay đua đòi gì. S phạm tội do bồng bột thiếu suy nghĩ của người chưa trưởng thành, do vậy đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để S được tiếp tục đến trường học tập sớm trở thành con người có ích cho xã hội.
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Ngọc S: Trợ giúp viên pháp lý ông Hoàng Trọng N có đơn xin vắng mặt, có bản luận cứ và có quan điểm nhất trí với bản cáo trạng mà VKSND huyện Lạng Giang đã truy tố đối với Lương Ngọc S về tội Trộm cắp tài sản. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và tỏ ra hối cải. Bị cáo là trẻ vị thành niên vẫn còn đang đi học, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Do vậy đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng xin cho bị cáo được hưởng mức án 3 năm cải tạo không giam giữ và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên: Người bào chữa cho bị cáo Lương Ngọc S không có quan điểm gì khác về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo. Chỉ đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức hình phạt cải tạo không giam giữ. Do vậy kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm trên và không có ý kiến đối đáp thêm gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, ý kiến của bị cáo người đại diện cho bị cáo, người bị hại trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Việc đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Lương Ngọc S khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, tại cửa hàng mua, bán điện thoại biển hiệu “Tùng Hương” của gia đình chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1989, địa chỉ tại thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Lương Ngọc S, sinh ngày 26/5/2007 có hành vi trộm cắp 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) của chị H2.
Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng đơn trình báo, lời khai của người bị hại và phù hợp với thời gian địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Ngọc S phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 14/5/2024 của VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố đối với Lương Ngọc S phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây bức xúc phẫn nộ và làm hoang mang tinh thần trong quần chúng nhân dân. Do đó phải xử phạt đối với bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời răn đe ngăn chặn phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo HĐXX thấy:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo hiện đang là học sinh trung học phổ thông phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú, gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố mẹ đẻ bị cáo đều là quân nhân và đều được tặng thưởng huy chương chiến sĩ vẻ vang. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt: Từ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, sau khi đánh giá nhân thân của bị cáo thì thấy Lương Ngọc S là người phạm tội dưới 18 tuổi, hiện vẫn đang là học sinh Trung học phổ thông, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bản thân bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có cơ hội tiếp tục học tập sớm trở thành người có ích cho xã hội, ý kiến của đại diện VKS huyện L tại phiên tòa cũng đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo nên cần chấp nhận. Áp dụng Điều 91; Điều 101 và Điều 65 BLHS đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng 50.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên bị cáo thuộc đối tượng học sinh chưa có thu nhập về kinh tế nên HĐXX không phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, mẹ đẻ bị cáo là bà Đặng Thị H trả cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 200.000 đồng. Chị H2 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì đối với S. Do vậy HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về vật chứng: Số tiền 8.800.000 đồng xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị H2. Ngày 05/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho chị H2. Chị H2 đã nhận đủ tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) điện thoại di động vỏ màu đen, nhãn hiệu OPPO F11, là của Lương Ngọc S không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo xin trả lại do vậy cần áp dụng Điều 106 Bộ luật TTHS trả lại cho bị cáo để sử dụng, song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[11] Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ, tuy nhiên HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự táo bạo, có ý định trộm cắp tài sản của gia đình bị hại từ trước, khi thực hiện hành vi trộm cắp được tiền của bị hại, bị cáo còn có ý định nhằm đánh lạc hướng bị hại là dùng chính số tiền đã trộm cắp được mua thẻ điện thoại của bị hại... Do vậy không chấp nhận quan điểm của Luật sư bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa hôm nay bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt, tuy nhiên đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy báo phiên tòa đầy đủ, hợp lệ, do vậy quyền lợi đã được đảm bảo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Xử phạt Lương Ngọc S 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 01 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lương Ngọc S cho UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
- Về vật chứng: Trả lại cho Lương Ngọc S 01 (một) điện thoại di động vỏ màu đen, nhãn hiệu OPPO F11 cũ; số ImeI 1: 866.988.040591793; Số ImeI 2: 866.9880400591785 bên trong lắp sim thuê bao 0976355801, song tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Ngọc S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người bào chữa theo chỉ định, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo, kể từ ngày nhận tống đạt bản án vắng mặt./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Ngọc Sơn - TCTS
