Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HSST

Ngày: 22/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Công Đại, Bà Vàng Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn- Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình T, sinh năm 1984, tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Châu Triều, xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: Bản Phìn Khò, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình H (đã chết) và con bà: Lê Thị H, sinh năm 1956; Bị cáo có vợ: Lý Thị C, sinh năm 1985 và có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2015, Nguyễn Đình T bị Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử, tuyên phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 30 tháng về tội trộm cắp tài sản (bản án số 04 ngày 27/01/2015). Năm 2019, Nguyễn Đình T bị Toà án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử, tuyên phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản (bản án số 79 ngày 27/11/2019). Ngày 13/7/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này, Nguyễn Đình T đã được xoá án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

1

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lý Thị Cần, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Bản Phìn Khò, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do lên cơn nghiện chất ma tuý, khoảng 06 giờ sáng ngày 07/01/2024, Nguyễn Đình T, sinh năm 1984, trú tại bản Phìn Khò, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, mang theo số tiền 200.000 đồng rồi một mình điều khiển xe máy, biển kiểm soát 25M1-1149 (mang tên Lý Thị C, là vợ của T) đi từ nhà đến khu vực bản Nậm Pặm cũ (nay đã sáp nhập vào bản Pắc Ma), xã Mường Tè để tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi đến khu vực bản Nậm Pặm cũ, T gặp một người đàn ông lạ mặt. Qua trao đổi, T mua được của người này 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T cầm gói Heroine trong bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Hồi 09 giờ 40 phút cùng ngày, trên đường đi về đến bản Xi Nế, xã Mù Cả, T gặp tổ công tác Công an xã Mù Cả đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe máy lại để kiểm tra. Khi vừa dừng xe lại, T đã thả gói Heroine đang cầm trong tay trái xuống đất nhưng đã bị tổ công tác phát hiện, yêu cầu nhặt lên để giao nộp. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 13 ngày 07/01/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Mường Tè kết luận: 01 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình T có khối lượng là 0,81 gam.

Tại bản kết luận giám định số 146 ngày 11/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình T gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại bản cáo trạng số 13/CT- VKS-MT ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo và bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 phong bì thư do bưu điện phát hành, đã bị cắt một đầu. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu đen xám, biển kiểm soát: 25M1-1149, số khung: RLHJC4314AY032203; số máy: JC43E-1203067. Xe không có hộp xích, không có gương, không có ốp yếm hai bên, nắp trước tay lái bị vỡ bên phải, tay phanh bị gãy một đầu và không có chìa khoá (Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng của xe).

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát và không bổ sung gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không đề nghị gì nên không đề cập giải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 09 giờ 40 phút ngày 07/01/2024, tại khu vực bản Xi Nế, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Đình T đang tàng trữ trái phép 0,81 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Mù Cả phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đình T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Nhân thân: Năm 2015, Nguyễn Đình T bị Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử, tuyên phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 30 tháng về tội trộm cắp tài sản (bản án số 04 ngày 27/01/2015). Năm 2019, Nguyễn Đình T tiếp tục bị Toà án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử, tuyên phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản (bản án số 79 ngày 27/11/2019). Ngày 13/7/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này, Nguyễn Đình T đã được xoá án tích.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và không giữ chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Bị cáo khai đã mua của người đàn ông lạ mặt với giá 200.000 đồng nhưng không biết địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 phong bì thư do bưu điện phát hành, đã bị cắt một đầu. Đều không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu đen xám, biển kiểm soát: 25M1 - 1149, số khung: RLHJC4314AY032203; số máy: JC43E-1203067. Xe không có hộp xích, không có gương, không có ốp yếm hai bên, nắp trước tay lái bị vỡ bên phải, tay phanh bị gãy một đầu và không có chìa khoá (Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng của xe). Đây là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng; 01 phong bì thư do bưu điện phát hành, đã bị cắt một đầu.
  4. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu đen xám, biển kiểm soát 25M1-1149, số khung: RLHJC4314AY032203; số máy: JC43E-1203067. Xe không có hộp xích, không có gương, không có ốp yếm hai bên, nắp trước tay lái bị vỡ bên phải, tay phanh bị gãy một đầu và không có chìa khoá (Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng của xe).

    (Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mường Tè và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 04/4/2024).

  5. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ (02);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger