Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày 30 – 10– 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Kỉnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Trường

Ông Đỗ Trung Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 20 24 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 với bị cáo:

Lê Văn N; tên gọi khác: không; sinh ngày 01/01/1987; tại huyện V, tỉnh Hậu Giang; Giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông dân (làm ruộng); Trình độ học vấn: 05/12; con ông: Lê Văn M, sinh năm 1953 (chết), con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1953 (còn sống); Vợ Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1989 (đã ly hôn); con Lê Hoàng K, sinh năm 2008, anh chị em ruột 07 người, lớn nhất 1973; nhỏ sinh năm 1993.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/8/2024 đến ngày 23/8/2024 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Bà Võ Thị Mỹ H; Sinh ngày 25/10/2003 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang

Người làm chứng:

Ông Võ Văn H1 – Sinh năm 1966 (vắng mặt)

Ông Lê Thanh S - Sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn N, sinh ngày 01/01/1987, đăng ký thường trú: ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang là bạn của Võ Thị Mỹ H, sinh ngày 25/10/2003. Vào sáng ngày 20/8/2024, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95B1-245.58 đến nhà H để dự đám giỗ. Sau khi nhậu được một lúc thì N nghỉ nhậu và đi vào phòng của H nói chuyện, nói chuyện một lúc thì N không thấy H nói chuyện mà quay mặt vào trong tường, nhắm mắt ngủ, N tiếp tục bắt chuyện với H nhưng H không trả lời nên xác định là H đã ngủ, N nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng của H để cạnh gối ngủ nên N dùng tay lấy điện thoại để vào túi quần rồi bỏ đi ra ngoài, sau đó N đem điện thoại cất giấu vào cốp xe mô tô của N đang đậu trước nhà.

Khoảng 40 phút sau, H phát hiện bị mất điện thoại nên tìm kiếm, do nghi ngờ N lấy trộm nên Lê Thanh S, sinh năm 1995 là hàng xóm của H yêu cầu N mở cốp xe để kiểm tra thì phát hiện điện thoại đang trong cốp xe nên trình báo sự việc đến cơ quan Công an.

Về vật chứng trong vụ án: Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp xong

Kết quả định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Hậu Giang kết luận 01chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng trị giá 16.554.880 đồng.

Tại Cáo trạng số 62/CT-VKS-HCT ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ khác đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Lê Văn N về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nên không trình bày ý kiến nhưng quá trình điều tra bị hại xác định đã nhận lại tài sản bị trộm, không có yêu cầu bồi thường và có yêu cầu xin bãi nại cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn N thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, được bị hại có đơn yêu cầu xin bãi nại đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 20/8/2024 đến ngày 23/08/2024.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định.

Bị cáo trình bày ý kiến tranh luận: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; Điều tra viên; Kiểm sát viên đã được thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã cung cấp lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vắng bị hại, người làm chứng và công bố lời khai khi cần thiết.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn N thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi lời khai và các tình tiết, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có quen biết với gia đình Võ Thị Mỹ H nên vào ngày 20/8/2024 Lê Văn N đến nhà của Võ Thị Mỹ H để dự đám giỗ, sau khi nhậu được một lúc thì N nghỉ nhậu và đi vào phòng của H nói chuyện, sau khi nói chuyện được một lúc Nhiên không thấy H nói chuyện lại nên xác định là H đã ngủ, lúc này N nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại của H nên dùng tay lấy điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng của H để cạnh gối ngủ để vào túi quần rồi bỏ đi ra ngoài, sau đó đem điện thoại cất giấu vào cốp xe mô tô của N đang đậu trước nhà. Khoảng 40 phút sau, Võ Thị Mỹ H phát hiện chiếc điện thoại bị mất, quá trình tìm kiếm phát hiện Nhiên giấu trong cốp xe mô tô nên trình báo Công an xã Đ để giải quyết vụ việc. Kết quả định giá chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng của bị hại trị giá 16.554.880 đồng, nên hành vi của bị cáo Lê Văn N đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, bị cáo Lê Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[4] Bị cáo Lê Văn N thừa nhận lời khai của mình tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, không bị bức cung và cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Văn N phạm tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành ban hành Cáo trạng số 62/CT-VKS-HCT ngày 08/10/2024 truy tố bị cáo N theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên bị cáo Lê Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên cần phải có hình phạt nghiêm tương xứng. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa loại tội phạm này tại địa phương.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ sức khỏe, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

[6] Về động cơ, mục đích phạm tội: Chỉ vì mục đích tư lợi cá nhân, vì lòng tham, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của bị hại để nhằm mục đích bán tiêu xài cá nhân.

[7] Về tình tiết tăng nặng: Không có

[8] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ích nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, quá trình giải quyết bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[09] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[10] Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về điều khoản áp dụng và hình phạt là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Xử phạt bị cáo Lê Văn N 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/08/2024 đến 23/8/2024.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hành quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản, đồ vật cho chủ sở hữu hợp pháp xong nên không xem xét.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

[6] Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - CC THA DS h. Châu Thành;
  • - VKSND h. Châu Thành;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Kỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trôm căp tài sản Lê Văn Nhiên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger