|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày: 29/10/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hữu Tuấn.
2. Bà Ly Ánh Tuyết.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo: T, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1993 tại Quảng Trị; nơi ĐKHKTT: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Trần Thị P, sinh năm 1994; có 01 con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/6/2024 đến ngày 09/7/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị P, sinh năm: 1994. Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1971. Địa chỉ: thôn L, xã P, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Vân Khánh Q, sinh năm: 2003. Địa chỉ: số A đường N, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ sáng ngày 30/6/2024, Trần B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD gắn biển kiểm soát 74B1 – 228.81 từ nhà tại thôn L, xã T, huyện H đến khu vực gần sông S thuộc xã T, huyện H để tìm việc làm. Tại đây, Trần B gặp một người đàn ông (không xác định được lai lịch) đến thuê Trần B vận chuyển 09 hộp pháo về khu vực gần ngã tư sòng, huyện C để nhận tiền công 630.000đồng nên đồng ý. Người đàn ông này chỉ vị trí cất giấu pháo tại bụi cây gần vị trí đứng, Trần B thấy có 01 bao nylon màu đen được buộc kín miệng, mở ra bên trong kiểm điếm có 09 hộp giấy, mặt ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, có dòng chữ “KS4 - 4911”. Trần B biết đó là pháo nên nên lấy 01 hộp cất vào bên trong túi xách màu đen, rồi treo ở vị trí móc treo gác chân để trước, 08 hộp pháo còn lại, thì để nguyên trong bao nylon màu đen rồi để trong cốp yên xe mô tô. Sau đó, Trần B điều khiển xe mô tô đi theo hướng Quốc lộ I hướng về huyện C, tỉnh Quảng Trị. Khi đến K + 800 quốc lộ I thuộc địa phận khóm A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng Công an huyện Đ quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ tang vật.
Tại Kết luận giám định số: 796/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng là 15,4kg.
Cáo trạng số: 47/CT-VKSĐKR ngày 29/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Trần B về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 08 hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài mỗi hộp đều có hoa văn nhiều màu sắc, có dòng chữ “KS4 - 4911” còn lại sau giám định; được niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu P, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
- 01 túi xách màu đen, kích thước (27x14x30)cm và 01 bao nylon màu đen (đã bị rách phần quai), phần còn lại có kích thước (71,5x53)cm (đều mở niêm phong thùng giấy ký hiệu BG).
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C 01 biển số 74B1 – 228.81 gắn trên xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, số khung RLHJF4503DY0 74300, số máy JF45E0120460.
Hoàn trả cho chị Trần Thị Phương ½ trị giá xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, số khung RLHJF4503DY0 74300, số máy JF45E0120460. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước ½ trị giá xe mô tô là phần mà bị cáo Trần B được hưởng.
Về án phí: Bị cáo Trần B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Vào hồi 06 giờ 30 phút, ngày 30/6/2024, tại Km 41 + 800 Quốc lộ I thuộc địa phận khóm A, thị trấn K, huyện Đ; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ vận chuyển 09 hộp pháo hoa nổ. Kết luận giám định số: 796/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng là 15,4kg.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần B khai nhận toàn bộ 09 hộp pháo hoa nổ nói trên bị cáo đã nhận vận chuyển của một người đàn ông không xác định được lai lịch từ xã T, huyện H đến ngã tư sòng, huyện C để nhận tiền công vận chuyển. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, khẳng định hành vi của bị cáo Trần Bắc cấu T tội “Vận chuyển hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần B theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Hành vi vận chuyển 15,4kg pháo hoa nổ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, lưu hành và sử dụng. Bị cáo Trần B là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm nhưng do hám lợi mà bị cáo vẫn bất chấp các quy định của pháp luật nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với việc quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2013 Trần B được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q tặng “Giấy khen” không thuộc trường hợp xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên đề nghị của Viện kiểm sát không có cơ sở được chấp nhận.
Về hình phạt: Đây là loại tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh thương mại có quy định khung hình phạt tiền đối với người phạm tội ít nghiêm trọng; tuy nhiên, bị cáo là lao động chính trong gia đình; là lao động tự do tại địa phương, không có thu nhập ổn định, đang nuôi con nhỏ; xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, thấy rằng không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, xử phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ giáo dục răn đe bị cáo và nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sớm cải tạo thành người tốt cho xã hội (Căn cứ khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự).
Bị cáo hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối bị cáo (Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự).
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
[6] Về xử lý vật chứng: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 08 hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài mỗi hộp đều có hoa văn nhiều màu sắc, có dòng chữ “KS4 - 4911” còn lại sau giám định; được niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu P, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q là vật cấm tàng trữ, lưu hành ; 01 túi xách màu đen, kích thước (27x14x30)cm và 01 bao nylon màu đen (đã bị rách phần quai), phần còn lại có kích thước (71,5x53)cm (đều mở niêm phong thùng giấy ký hiệu BG) là vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự).
Biển số 74B1 – 228.81 gắn trên xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, số khung RLHJF4503DY0 74300, số máy JF45E0120460 là biển số xe Honda Vision của bà Nguyễn Thị C, bà C không biết bị cáo lấy sử dụng, tại phiên tòa bà C vắng mặt nhưng tài liệu trong hồ sơ thể hiện có mong muốn nhận lại nên hoàn biển số 74B1 – 228.81 trả cho bà Nguyễn Thị C (Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự).
Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, số khung RLHJF4503DY0 74300, số máy JF45E0120460, đăng ký biển số 75F1 – 235.74 xe đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên chủ xe Nguyễn Vân Khánh Q (kèm theo hồ sơ) là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, HĐXX thấy rằng: Trần B và chị Trần Thị P đã đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/2015. Đến năm 2023, Trần B và chị Trần Thị P và chị Nguyễn Vân Khánh Q đều khai nhận đã nhận chuyển nhượng chiếc xe mô tô nói trên từ chị Nguyễn Vân Khánh Q nhưng chưa thực hiện đăng ký sang tên chủ xe; đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của Trần B và chị Trần Thị P (Điều 33 của Luật Hôn nhân & Gia đình). Đến ngày 08/01/2024, Trần B và chị Trần Thị P đã giải quyết ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2024/QĐST – HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa nhưng chưa yêu cầu giải quyết về chia tài sản chung vợ chồng. Mặc dù vợ chồng chưa chia tài sản chung, nhưng chị Trần Thị P vẫn được hưởng ½ trị giá của chiếc xe mô tô (căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân & Gia đình). Sau khi ly hôn chị P vẫn tiếp tục sử dụng xe mô tô nói trên; chị Trần Thị P không biết việc vào ngày 30/6/2024 bị cáo Trần B sử dụng chiếc xe nói trên để vận chuyển pháo hoa nổ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của chị Trần Thị P cần giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông xử lý bán đấu giá tài sản, hoàn trả cho chị Trần Thị Phương ½ trị giá của chiếc xe và tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ trị giá chiếc xe mô tô là tài sản của bị cáo Trần B (Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự).
[7] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông thuê Trần B vận chuyển số pháo trên, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không có kết quả, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần B phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 33, 59 Luật Hôn nhân & Gia đình:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần B phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (29/10/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần B 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2024).
Giao bị cáo Trần B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 08 hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài mỗi hộp đều có hoa văn nhiều màu sắc, có dòng chữ “KS4 - 4911” còn lại sau giám định; được niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu P, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Vật chứng hiện Công an huyện Đ đang bảo quản); 01 túi xách màu đen, kích thước (27x14x30)cm và 01 bao nylon màu đen (đã bị rách phần quai), phần còn lại có kích thước (71,5x53)cm (đều mở niêm phong thùng giấy ký hiệu BG).
-Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C 01 biển số 74B1 – 228.81 gắn trên xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, số khung RLHJF4503DY0 74300, số máy JF45E0120460.
-Giao 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, số khung RLHJF4503DY0 74300, số máy JF45E0120460, đăng ký biển số 75F1 – 235.74 xe đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên chủ xe Nguyễn Vân Khánh Q (kèm theo hồ sơ) cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông xử lý bán đấu giá tài sản; sau khi trừ tiền chi phí bán đấu giá thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước ½ trị giá xe còn lại là phần tài sản bị cáo Trần B được hưởng; Hoàn trả cho chị Trần Thị Phương ½ trị giá còn lại xe môtô nói trên.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Thu Hà |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về vận chuyển hàng cấm (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần B " Vận chuyển hàng cấm"
