|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày: 18-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Thúy Hằng.
- Ông Trần Minh Chính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Kim Trình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1, H và tên: Hồ Hải S (tên gọi khác: không); sinh năm: 1996 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không xác định và bà: Hồ Thị B; vợ: Phan Thị L và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 19/01/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2, Họ và tên: Ngô Kim N (tên gọi khác: không); sinh năm: 1990 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn C (chết) và bà: Vũ Thị L1 (chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 05/11/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm, về tội "Tổ chức đánh bạc" (bản án số 593/2020/HSST), chấp hành xong ngày 05/11/2022; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 19/01/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
3, Họ và tên: Đặng Minh C1 (tên gọi khác: không); sinh năm: 1983 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng C2 và bà: Đặng Thị L2; vợ: Nguyễn Thị L3 và 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 19/01/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
4, H và tên: Bùi Văn T (tên gọi khác: không); sinh năm: 1994 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn N1 (chết) và bà: Nguyễn Thị K (chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 19/01/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Ông Vũ Hoàng H1, sinh năm 1986. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hành vi thứ nhất: vào khoảng 14h40 phút ngày 19/01/2024, Hồ Hải S đến nhà Ngô Kim N để trả nợ, trong quá trình nói chuyện, N hỏi S có sử dụng ma túy không, S trả lời “em hết tiền rồi, cho em vay đó một trăm, sau em trả”, N đồng ý. Mỗi người góp 100.000đ (một trăm nghìn đồng), S chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, N chịu trách nhiệm liên lạc mua ma túy. N sử dụng điện thoại di dộng Samsung gắn thẻ sim số 0378.797.619 gọi cho người đàn ông tên B1 hỏi mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) ma túy. Binh hẹn N đến địa điểm “biển báo giao thông hạn chế tốc độ 70km/h gần Kho muối ngay ngã tư G” lấy ma túy. N đưa tiền và chỉ địa điểm cho S đi lấy ma túy. S thuê tắc xi đi đến địa điểm N chỉ dẫn lấy 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có 03 (ba) viên ma túy hồng phiến và để lại số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Khi về đến nhà tại thôn H, xã Q, huyện Q, S nói với N “em lấy được đồ đây rồi”, N trả lời “em làm đồ chơi đi”, nên S lấy 01 (một) chai nước lọc loại 250ml đổ hết nước trong chai, dùng điếu thuốc đang hút châm thủng 01 (một) lỗ trên thân chai, dùng tờ tiền mệnh giá 2.000đ (hai nghìn đồng) đút vào lỗ trên thân chai, lấy 01 (một) miếng giấy bạc để làm máng đựng ma túy. Sau đó, S lấy 02 (hai) viên ma túy hồng phiến bỏ lên giấy bạc và dùng bật lửa để đốt hút ma túy và đưa cho N sử dụng. Trong lúc, N và S đang sử dụng ma túy thì Đặng Minh C1 đi đến nhà S, S nói với C1 “có ít đồ đây, anh vào chơi này”, C1 trả lời “để anh đưa lá vối về rồi anh qua”. S nói với N “có ông anh gần nhà đây muốn chơi, cho anh chơi với”, N đồng ý. Sau đó, C1 quay lại, S giới thiệu với N biết C1 là hàng xóm của S. S đưa chai nhựa và máng đang còn ma túy hồng phiến cho C1 sử dụng. S nói “loại này mà có Đá thì chơi được lâu lắm”, C1 trả lời “nhà anh vẫn còn một ít để anh về lấy sang ta sử dụng”, S và N đồng ý. C1 đi về nhà lấy 01 (một) gói ma túy đá để ở trong kẽ tường ở ngoài cổng ngõ dùng giấy vệ sinh màu trắng gói lại đưa qua nhà S. Khi đến nhà S, C1 đưa gói ma túy cho S, S đổ một phần ma túy đá lên giấy bạc rồi đưa số còn lại cho N và nói “anh bỏ vào túi đi”. Do gói ma túy đá bị rách nên N lấy túi nilong trong suốt hình chữ nhật (loại túi Z) đổ toàn bộ ma túy đá còn lại vào và để xuống dưới giường. S lấy viên ma túy hồng phiến còn lại bỏ lên giấy bạc rồi cùng sử dụng với C1 và N khoảng 5-6 lượt. Sau khi sử dụng hết số ma túy trên giấy bạc, C1 đứng dậy ra về. S đứng dậy quét dọn, N ngồi chơi điện thoại.
Hành vi thứ hai: trong lúc S quét dọn thì nhận được điện thoại của Bùi Văn T hỏi “có tý mô không”, S trả lời “làm chi có, mi có tiền không”, T nói “tau có hai trăm đây”, S nói cho S vay 100.000đ để mua ma túy, T đồng ý. T đến nhà S đưa cho S số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), S cầm tiền đi đến khu vực đồi núi xã Q mua của người đàn ông 01 (một) gói ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, S đưa về nhà đổ ma túy lên giấy bạc rồi cùng sử dụng với T. Trong lúc S, T sử dụng ma túy, N ngồi xem điện thoại. Sử dụng ma túy xong, S đi công việc. T, N bị tổ công tác Công an huyện Q phối hợp với Công an xã Q bắt quả tang, thu giữ 01 (một) gói nilong bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Cùng ngày, Hồ Hải S bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, Đặng Minh C1 đến Cơ quan điều tra Công an huyện Q đầu thú.
Tiến hành xét nghiệm, kết quả Hồ Hải S, Ngô Kim N, Đặng Minh C1 và Bùi Văn T đều dương tính với ma túy tổng hợp dạng “đá” (Methamphetamine).
Kết luận giám định số 209/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 26/01/2024, phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Ngô Kim N, Bùi Văn T gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,9 (không phẩy chín gam). Trên vỏ chai nhựa, tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, 02 (hai) tờ giấy bạc, 01 (một) ống hút nhựa, 01 (một) bật lửa ga gửi đến giám định đều không phát hiện thấy thành phần chất ma túy.
Bản cáo trạng số 48/CT-VKS-QL ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Hồ Hải S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Ngô Kim N và Đặng Minh C1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Bùi Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Hải S 07 năm 06 tháng - 08 năm tù.
Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Kim N 07 năm - 07 năm 06 tháng tù.
Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Minh C1 03 năm - 03 năm 06 tháng tù.
Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T 24 - 30 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,6 gam (không phẩy sáu gam) ma túy Methamphetamine, vỏ gói ni long, phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) túi niêm phong bên trong chứa 01 (một) chai nhựa, 02 (hai) tờ giấy bạc, 01 (một) ống hút, 01 (một) bật lửa ga. Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, 01 (một) điện thoại Redmi Note 11, 01 (một) điện thoại Iphone 6s và 01 (một) điện thoại S1.
Án phí: buộc các bị cáo Hồ Hải S, Ngô Kim N, Đặng Minh C1 và Bùi Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Hải S, Ngô Kim N, Đặng Minh C1 và Bùi Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: rất hối hận, xin mức án nhẹ nhất để cải tạo sớm trở về làm người có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Hải S, Ngô Kim N, Đặng Minh C1 và Bùi Văn T khai nhận: trong ngày 19/01/2024 tại nhà S (thôn H, xã Q, huyện Q), S và N, mỗi người góp số tiền 200.000 đồng mua 03 (ba) viên ma túy (Hồng phiến), C1 góp 01 (một) gói ma túy đá (Methamphetamine) để cùng nhau sử dụng; cũng trong ngày 19/01/2024, S và T, mỗi người góp số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) mua 01 (một) gói ma túy đá (Methamphetamine) để sử dụng với nhau. Đến khoảng 17h cùng ngày bị tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền, thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo S chuẩn bị địa điểm, công cụ, góp tiền cùng với N, T mua ma túy, C1 góp ma túy, nên cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo S lần đầu sử dụng ma túy cùng N, C1; lần hai sử dụng cùng T, nên bị truy tố theo điểm a, b khoản 2 Điều 255. Bị cáo N, C1, cùng sử dụng với S nên bị truy tố theo điểm b khoản 1 Điều 255. Bị cáo T sử dụng với S nên bị truy tố theo khoản 1 Điều 255. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, đồng phạm giản đơn. Ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, làm suy kiệt kinh tế của mỗi gia đình, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng người đồng phạm để cá thể hóa hình phạt cho phù hợp, như thế mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo Ngô Kim N là người khởi xướng, có vai trò chính trực tiếp liên lạc mua ma túy, nhân thân xấu. Bị cáo Hồ Hải S góp tiền với N và T, cung cấp địa điểm, trực tiếp đi lấy ma túy và chuẩn bị công cụ để sử dụng. Nên phải chịu trách nhiệm chính, hình phạt phải cao hơn các bị cáo còn lại. Đặng Văn C3, Bùi Văn T phạm tội với vai trò giúp sức, C3 góp ma túy, T góp tiền mua ma túy. Các bị cáo phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đặng Minh C1 có công tố giác tội phạm, giúp Đồn Biên phòng M phát hiện, bắt quả tang đối tượng Lò Văn T1 có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đầu thú, bố đẻ (ông Đặng C2) được tặng thưởng Huân chương chiến công, Huân chương chiến sỹ vẻ vang, Bằng khen, Giấy khen, vợ (bà Nguyễn Thị L3) được Chủ tịch UBND huyện Q tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở, Liên đoàn Lao động huyện Q tặng Giấy khen. Xét thấy, bị cáo C1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Xử phạt các bị cáo với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[4] Hình phạt bổ sung: xét các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị xử phạt tù, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Biện pháp tư pháp: ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy là chất cấm, vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,6 gam (không phẩy sáu gam) ma túy Methamphetamine, vỏ gói ni long, phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) túi niêm phong bên trong chứa 01 (một) chai nhựa, 02 (hai) tờ giấy bạc, 01 (một) ống hút, 01 (một) bật lửa ga. Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng.
[6] Những vấn đề khác: Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của người bán ma túy cho Ngô Kim N, Hồ Hải S.
[7] Về án phí hình sự: các bị cáo Hồ Hải S, Ngô Kim N, Đặng Minh C1 và Bùi Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Hải S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/01/2024).
Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Kim N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/01/2024).
Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Minh C1 03 (ba) năm tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/01/2024).
Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T 30 (ba mươi) tháng tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/01/2024).
2. Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,6 gam (không phẩy sáu gam) ma túy Methamphetamine, vỏ gói ni long, phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) túi niêm phong bên trong chứa 01 (một) chai nhựa, 02 (hai) tờ giấy bạc, 01 (một) ống hút, 01 (một) bật lửa ga. Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, 01 (một) điện thoại Redmi Note 11 của bị cáo Hồ Hải S, 01 (một) điện thoại Iphone 6s của bị cáo Bùi Văn T và 01 (một) điện thoại Samsung galaxy A21s của bị cáo Ngô Kim N. Tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Hồ Hải S, Ngô Kim N, Đặng Minh C1 và Bùi Văn T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Hải S và đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
