|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HSST |
Ngày: 11-9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P -TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thuyết;
- Bà Đỗ Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lương Dương Tùng Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST- HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44 /2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam;
Sinh ngày 25 tháng 7 năm 1985.
Nơi cư trú: tổ A, phường P, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12.
Họ và tên bố: Lê Văn H, sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Đới Thị H1, sinh năm 1959; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hà Thị T1, sinh năm 1985, có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 284 ngày 18/11/2003 của TAND tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lê Văn T 09 tháng tù cho hưởng án treo, 18 tháng thử thách về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Tại Bản án số 30 ngày 19/6/2008 của TAND thị xã B, tỉnh Bắc Kạn (Nay là TAND TP B, tỉnh Bắc Kạn) xử phạt Lê Văn T 15 tháng tù cho hưởng án treo, 30 tháng thử thách về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/3/2024, đến ngày 16/5/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện đang tại ngoại tại tổ A, phường P, thành phố T.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-Người bị hại: Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kan.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng:
Anh Hoàng Ngọc B, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn G, TT Y, huyện N, tỉnh Bắc Kan. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn T là nhân viên của nhà xe A, hằng ngày có nhiệm vụ đến Điểm dừng nghỉ A, địa chỉ tại xóm T, xã V, huyện P để kiểm tra, chốt số lượng khách của các xe chạy trong ngày đi qua điểm dừng nghỉ. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, T đến Điểm dừng nghỉ A làm việc như mọi ngày. Đến khoảng 8 giờ 35 phút cùng ngày, khi T đang ngồi uống nước tại bàn thì thấy anh Hoàng Ngọc B (SN 1982, Nơi thường trú: thôn G, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn) là lái xe chở khách của nhà xe A, chạy tuyến Hà Nội - B và Đỗ Văn T2 (SN 1983, Nơi thường trú: thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn) là lái xe chở khách của nhà xe T3, chạy tuyến N - Hà Nội đi đến điểm dừng nghỉ. Thấy anh B bị chảy máu ở đầu, đứng nói chuyện ở sân với anh T2, T lại hỏi anh B bị làm sao đấy thì được anh B kể lại sự việc: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, anh B và anh T2 gặp nhau tại quán ăn sáng (quán phở) thuộc xóm F, xã S, TP T. Sau đó, anh B đến nói chuyện với anh T2 thì xảy ra cãi nhau, anh B liền dùng tay đánh về phía anh T2, anh T2 tránh được rồi cầm 01 chiếc bát sứ đánh một nhát trúng vào vùng đầu bên trái gây thương tích cho anh B. Sau đó anh T2 chạy thì bị anh B đuổi theo bắt được, yêu cầu cùng lên xe ô tô đi đến điểm dừng nghỉ A thuộc xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để nói chuyện và giải quyết sự việc.
Lúc này, T nói anh B đi vào trong xử lý vết thương và bảo anh T2 đi vào phía trong điểm dừng nghỉ nói chuyện. Khi đó, T khoác vai anh T2 đi vào phía trong đến khu vực gian bán hàng của điểm dừng nghỉ. Trên đường vào, anh T2 gọi điện cho người khác, yêu cầu T nghe điện thoại để giải quyết sự việc. Thao nghe điện thoại thì bị người trong điện thoại chửi (T không biết là ai) nên đưa điện thoại lại cho anh T2, không nghe nữa và khoác vai anh T2 đi vào trong gian bán hàng. Anh T2 tiếp tục yêu cầu T nghe điện thoại, T không nghe, gạt tay anh T2 ra tiếp tục khoác vai anh T2 đi vào gian bán hàng thì bị anh T2 đẩy vào vai khiến T bị ngã. Tức giận, T đã dùng chiếc mũ cối và dép nhựa cầm trên tay phải đánh nhiều nhát trúng vào vùng đầu, mặt của anh T2 khiến anh T2 bị thương, ngã xuống nền nhà rồi tiếp tục dùng tay, chân không đánh nhiều nhát trúng vào vùng mặt, mũi, sườn bên trái của anh T2. Sau đó cả hai vào phòng nghỉ của Đ dừng chân ngồi nói chuyện thì Tổ công tác Công an xã V, huyện P đến lập biên bản sự việc, kết thúc sự việc. Anh T2 được đưa đến Bệnh viện T4 khám, điều trị đến ngày 03/7/2023 ra viện.
Công an xã V đã tiến hành lập biên bản sự việc, xác minh ban đầu và chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố T để giải quyết.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 648/KLTTCT-TTPY ngày 03/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn T2 tại thời điểm giám định là 16%. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày
Ngày 29/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 244A đối với vụ “Cố ý gây thương tích” và “Bắt người trái pháp luật” xảy ra ngày 25/6/2023 tại xóm F, xã S, Thành phố T, đồng thời ra quyết định tách nguồn tin về tội phạm số 02, tách hành vi “Cố ý gây thương tích” của Lê Văn T xảy ra ngày 25/6/2023 tại xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.
Sau khi sự việc xảy ra, Lê Văn T đã tự nguyện bồi thường cho anh Đỗ Văn T2 tổng số tiền 80.000.000 đồng. Anh T2 nhận đủ tiền, không yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm, tự nguyện làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với cho Lê Văn T
Vật chứng vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong có 01 USB nhãn hiệu Kingston lưu trữ 03 đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 25/6/2023 tại xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Xác định không bị ép cung, nhục hình, khai báo trong tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo. Được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản cáo trạng. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Do có hành vi trên bản cáo trạng số 43/CT-VKSP ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố bị cáo Lê Văn T, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 BLHS.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T, từ 07 đến 10 tháng tù.
Trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với người bị hại số tiền 80.000.000đ.
Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về tranh tụng: Bị cáo không tranh tụng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan, phù hợp với biên bản làm việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định sức khỏe, lời khai của người bị hại, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở xác định:
Hồi 08 giờ 45 phút ngày 25/6/2023, tại Điểm dừng nghỉ A, địa chỉ tại xóm T, xã V, huyện P, do mâu thuẫn cá nhân, Lê Văn T đã dùng mũ cối, dép nhựa, tay, chân đánh nhiều nhát vào đầu, mặt, người anh Đỗ Văn T2, gây thương tích cho anh T2 với tỷ lệ thương tật là 16%.
Do có hành vi trên bản cáo trạng số 43/CT-VKSP ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Nội dung Điều 134 BLHS quy định như sau:
“1. Người nào cố ý gây thương tích... cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) ...;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này."
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương.
Xét về nhân thân: bị cáo có trình độ văn hóa 12/12 tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: Tại Bản án số 284 ngày 18/11/2003 của TAND tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lê Văn T 09 tháng tù cho hưởng án treo, 18 tháng thử thách về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Tại Bản án số 30 ngày 19/6/2008 của TAND thị xã B, tỉnh Bắc Kạn (Nay là TAND TP B, tỉnh Bắc Kạn) xử phạt Lê Văn T 15 tháng tù cho hưởng án treo, 30 tháng thử thách về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. (Đều đã được xóa án tích)
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 80.000.000đ để khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS; ngoài ra bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS là người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[4] Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo khi phạm tội biết hối lỗi, có ý thức bồi thường khắc phục hậu quả và người bị hại cũng có có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự, do bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 80.000.000 đồng . Tại phiên tòa người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường nên cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo.
[6] Vật chứng vụ án: Không có.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Mức hình phạt cũng như các vần đề khác đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
1.Tuyên bố: Bị cáo Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 07 (bẩy) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/3/2024, đến ngày 16/5/2024.
2. Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả của bị cáo đối với người bị hại Đỗ Văn T2 số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
3. Về vật chứng: Không.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người vắng mặt./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Hồng Nam |
Bản án số 52/2024/HSST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THÁI NGUYÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 52/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 25/6/2023, tại Điểm dừng nghỉ A, địa chỉ tại xóm T, xã V, huyện P, do mâu thuẫn cá nhân, Lê Văn T đã dùng mũ cối, dép nhựa, tay, chân đánh nhiều nhát vào đầu, mặt, người anh Đỗ Văn T2, gây thương tích cho anh T2 với tỷ lệ thương tật là 16%.
