Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HSST

Ngày: 02-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đoàn.
Ông Võ Trường Tam

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Phan Sâm Rin – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm (xét xử trực tuyến) công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Bá L, sinh ngày 24/10/1993.

Tên gọi khác: Quậy.

Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang V và bà Nguyễn Thị Ngọc M; Bản thân có vợ tên Trương Nguyễn Bảo C, chưa có con; Tiền án - tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Huỳnh Văn T, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  2. Hoàng Xuân T1, sinh năm: 1994 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  3. Trần Hùng V1, sinh năm: 1996 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người làm chứng:

  1. Nguyễn Tấn H, sinh năm: 2003 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  2. Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
  3. Võ Hoàng P, sinh năm: 2002 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  4. Nguyễn Hoàng N, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 18/01/2024, Hoàng Xuân T1 và Huỳnh Văn T cùng nhau uống nước giải khát tại quán Trà sữa P, thuộc ấp Đ, xã P, huyện C. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T1 nhờ T mua giùm ma túy đá và nỏ về cùng nhau sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T liên lạc với Trần Bá L qua tài khoản Facebook đặt mua 01 gói ma túy đá và 01 nỏ với số tiền 900.000 đồng. T hẹn L địa điểm giao nhận ma túy là tại quán trà sữa Pé H2. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển số: 62M1-740.50 đến quán để giao ma túy. Khi đến quán gặp T và T1, L lấy 01 nỏ tặng cho T. Lúc này, T1 dùng điện thoại cá nhân chuyển vào tài khoản của L 900.000 đồng, L xác nhận tin nhắn đã nhận tiền nên lấy 01 gói ma túy ra định giao cho T thì bị Công an xã P, huyện C, đến bắt quả tang, thu giữ: 01 (một) gói nylon màu trắng có viền khép màu đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy, 01 (một) điện thoại di động Iphone 14, màu vàng cùng sim số 092.729.2xxx, 01 (một) điện thoại di động Oppo A83, màu đen cùng sim số 094.494.2xxx, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu trắng, biển kiểm soát 62M1-740.50, 01 (một) nỏ thủy tinh, tiền Việt Nam 18.000 đồng, 02 (hai) ống hút nhựa màu trắng và 01 (một) bật lửa gas.

Tại Kết luận giám định số: 45/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,8169 gam, loại Methamphetamine; Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,5759 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.

Quá trình điều tra, xác định: Do muốn có ma túy để sử dụng nên trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến ngày 05/01/2024, Trần Bá L đã 02 lần mua ma túy từ 01 thanh niên (không rõ nhân thân) tại khu vực đường N, xã N, huyện N, Tp .. Sau khi mua ma túy, L sử dụng một phần, phần còn lại chia nhỏ bán cho các con nghiện. L sử dụng facebook tên “Loc Tran  – thanh”, zalo tên “Lộc Trần” để bán ma túy và thanh toán qua tài khoản tại Ngân hàng cổ phần Q (MB) hoặc tiền mặt. Cụ thể các lần bán ma túy như sau:

  • - Khoảng giữa tháng 11/2023, tại xã P, huyện C, bán 01 gói ma túy cho Huỳnh Văn T, với giá 300.000 đồng.
  • - Trong tháng 11/2023 và tháng 12/2023, tại xã T, huyện C, bán ma túy cho Nguyễn Văn H1 02 lần, với tổng số tiền 800.000 đồng.
  • - Tháng 11/2023 đến tháng 12/2023, trên địa bàn huyện C, bán ma túy cho các đối tượng nghiện (không rõ nhân thân) 04 lần, với số tiền 1.300.000 đồng.
  • - Ngày 06/01/2024 và ngày 11/01/2024, tại xã L và xã Đ, huyện C, bán ma túy cho Nguyễn Tấn H 02 lần, với tổng số tiền 600.000 đồng.
  • - Ngày 07/01/2024, tại xã T, huyện C, bán ma túy cho đối tượng có zalo “Đinh Ngọc H4” (không rõ nhân thân) 01 lần, với số tiền 300.000 đồng.
  • - Ngày 14/01/2024 và ngày 16/01/2024, tại xã T, huyện C, bán ma túy cho Nguyễn Hoàng N 02 lần, với số tiền 600.000 đồng.

Khoảng 17 giờ ngày 18/01/2024, tại quán T2, trong lúc đang thực hiện giao dịch mua bán ma túy thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền thu lợi bất chính qua các lần bán ma túy theo bị cáo L khai là 780.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSCG ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Trần Bá L từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine; có khối lượng: 0,5759 gam và vỏ bao đụng mẫu được niêm phong số 45, 01 (một) nỏ thủy tinh, 01 (một) bật lửa gas, 02 (hai) ống hút nhựa màu trắng và thẻ sim điện thoại di động mang số 094.494.2xxx của Huỳnh Văn T do sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 14, màu vàng của bị cáo và 01 (một) điện thoại di động Oppo A83 của Huỳnh Văn T sử dụng để liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với thẻ sim điện thoại di động mang số 092.729.2xxx của bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội do liên lạc qua mạng xã hội, nên hoàn trả cho bị cáo L.

Buộc bị cáo L phải giao nộp số tiền 780.000 đồng thu lợi bất chính sung nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, biển số 62M1-740.50, thuộc sở hữu hợp pháp của anh Trần Hùng V1 cho bị cáo mượn sử dụng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho anh V1, là phù hợp.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Trần Bá L là đối tượng sử dụng ma túy nên đã 02 lần đến khu vực đường N, xã N, huyện N, Tp ., mua ma túy đá của 01 đối tượng nam (không rõ nhân thân). Sau khi mua ma túy, bị cáo L sử dụng một phần, phần còn lại bán cho các con nghiện. Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến ngày 18/01/2024 trên địa bàn huyện C, Trần Bá L đã trên 02 lần bán ma túy cho các con nghiện. Cụ thể, bán cho Huỳnh Văn T 01 (một) lần; bán cho Nguyễn Văn H1 02 (hai) lần; bán cho Nguyễn Tấn H 02 (hai) lần; bán cho Nguyễn Hoàng N 02 (hai) lần và còn bán cho các đối tượng nghiện (không rõ nhân thân) 04 (bốn) lần; bán cho đối tượng nghiện có zalo “Đinh Ngọc H4” (không rõ nhân thân) 01 (một) lần. Đến khoảng 17 giờ ngày 18/01/2024, khi đang bán ma túy tại quán T2, thuộc ấp Đ, xã P, huyện C thì bị công an bắt quả tang cùng tang vật là 01 (một) gói nylon màu trắng có viền khép màu đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Tại Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 01 (một) gói nylon màu trắng thu giữ trong túi quần của bị cáo L gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8169 gam, loại Methamphetamine. Do đó hành vi của bị cáo L đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Với hành vi bán ma túy cho các đối tượng nghiện trên hai lần, nên hành vi của bị cáo L thuộc trường hợp định khung hình phạt là “Phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3] Đối với Hoàng Xuân T1 và Huỳnh Văn T vào ngày 18/01/2024 có thỏa thuận mua ma túy của L, nhưng T và T1 chưa nhận được ma túy do L giao vì khi bị bắt quả tang gói ma túy vẫn còn trong túi quần của bị cáo L đang mặc trên người, nên hành vi của T1 và T không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

[4] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo đã tự thú khai nhận những lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện trước đó mà Cơ quan cảnh sát điều tra chưa phát hiện, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra xét thấy bị cáo có ông, bà ngoại tên Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị N1 là người có công được tặng huân chương kháng chiến hạng ba, nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe và bị cáo đang bị tạm giam nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[8] Đối với Hoàng Xuân T1, Huỳnh Văn T, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Hoàng N, Nguyễn Tấn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C có Công văn số 176/CV.CSĐT, ngày 15/5/2024 chuyển Công an các xã: P, T, L và Long An, huyện C, xử phạt hành chính theo quy định. Đối với người sử dụng zalo tên Đinh Ngọc H4 (không rõ nhân thân) đã mua ma túy của L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, xử lý sau. Đối với đối tượng nam (không rõ nhân thân) đã bán ma túy cho L tại xã N, huyện N, Tp ., Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C có Công văn số 175/CV. CSĐT, ngày 15/5/2024 chuyển đến Công an huyện N, Tp . giải quyết theo quy định. Đối với số tiền 900.000 đồng Hoàng Xuân T1 dùng để mua ma túy của bị cáo L, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C tiến hành sao kê tài khoản của bị cáo L mở tại Ngân hàng cổ phần Q, số tài khoản 0927922393, tuy nhiên tài khoản ngân hàng của L chưa nhận được số tiền này, nên giao cho công an xã P xử lý trong quá trình xử phạt hành chính Hoàng Xuân T1 theo quy định.

[9] Về tang vật thu giữ: căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự để xử lý vật chứng như sau:

  • [9.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L khai nhận trong thời gian bán ma túy thu lợi bất chính số tiền 780.000 đồng (bảy trăm tám mươi ngàn đồng). Nên buộc bị cáo L phải giao nộp số tiền 780.000 đồng, sung nộp ngân sách Nhà nước.
  • [9.2] Đối với chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine; có khối lượng: 0,5759 gam và vỏ bao đụng mẫu được niêm phong số 45, 01 (một) nỏ thủy tinh, 01 (một) bật lửa gas, 02 (hai) ống hút nhựa màu trắng, nên tịch thu tiêu hủy.
  • [9.3] Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 14, màu vàng của bị cáo và 01 (một) điện thoại di động Oppo A83 của Huỳnh Văn T sử dụng để liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
  • [9.4] Đối với thẻ sim điện thoại di động mang số 092.729.2xxx của bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo L yêu cầu nhận lại, nên hoàn trả cho bị cáo. Đối với thẻ sim điện thoại di động mang số 094.494.2xxx của Huỳnh Văn T sử dụng liên lạc để mua ma túy, nên tịch thu tiêu hủy.
  • [9.5] Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 62M1-740.50 là tài sản hợp pháp của anh Trần Hùng V1, cho bị cáo mượn sử dụng, anh V1 không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho V1, là phù hợp. Đối với số tiền Việt Nam 18.000 đồng thu giữ của Huỳnh Văn T, đây là tiền của Hoàng Xuân T1 đưa cho T để trả tiền nước, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho anh T1, là phù hợp.

[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Bá L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Bá L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/01/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (02/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tang vật:

Tịch thu tiêu hủy: Chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine; có khối lượng: 0,5759 gam và vỏ bao đụng mẫu được niêm phong số 45, 01 (một) nỏ thủy tinh, 01 (một) bật lửa gas, 02 (hai) ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) thẻ sim điện thoại di động mang số 094.494.2xxx của Huỳnh Văn T.

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 14, màu vàng của bị cáo và 01 (một) điện thoại di động Oppo A83 của Huỳnh Văn T.

Hoàn trả cho bị cáo 01 (một) thẻ sim điện thoại di động mang số 092.729.2xxx.

Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 38/QĐ-VKSCG, ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Buộc bị cáo Trần Bá L phải giao nộp số tiền 780.000 đồng (bảy trăm tám mươi ngàn đồng) thu lợi bất chính sung nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: bị cáo L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Cần Giuộc, ngày 02 tháng 7 năm 2024

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 9 giờ 30 phút ngày 02 tháng 7 năm 2024.

Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đoàn.
Ông Võ Trường Tam

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/TLST-HS, ngày 04/6/2024 đối với bị cáo: Trần Bá Lộc

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1.Về tội danh:

Bị cáo Trần Bá Lộc phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về hình phạt:

Xử phạt: Trần Bá Lộc 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/01/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (02/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Các vấn đề khác:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tang vật:

Tịch thu tiêu hủy: Chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine; có khối lượng: 0,5759 gam và vỏ bao đụng mẫu được niêm phong số 45, 01 (một) nỏ thủy tinh, 01 (một) bật lửa gas, 02 (hai) ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) thẻ sim điện thoại di động mang số 094.494.2xxx của Huỳnh Văn Tú.

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 14, màu vàng của bị cáo và 01 (một) điện thoại di động Oppo A83 của Huỳnh Văn Tú.

Hoàn trả cho bị cáo 01 (một) thẻ sim điện thoại di động mang số 092.729.2xxx.

Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 38/QĐ-VKSCG, ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Buộc bị cáo Trần Bá Lộc phải giao nộp số tiền 780.000 đồng (bảy trăm tám mươi ngàn đồng) thu lợi bất chính sung nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: bị cáo Lộc phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 45 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TRẦN VĂN ĐOÀN – VÕ TRƯỜNG TAM

CHỦ TOẠ

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 52/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần bá L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger