Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HSST

Ngày: 30 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Công Đoàn.

Thẩm phán: Ông Trần Văn San.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đúng, ông Nguyễn Văn Thi và ông Phạm Đức Đông.

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Thanh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Thiều - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/HSST ngày 10/7/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn Đ, sinh năm:1977; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Bùi Văn K và bà Vũ Thị X (đều đã chết); có vợ Lưu Thị T; con: Có 02 lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/9/2021 bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2023 đến ngày 11/11/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn Đ: Ông Nguyễn Đình T1 -Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H; địa chỉ: A đường T, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.

Người bị hại:

- Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Bùi Thị Hải Y, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt

- Công ty TNHH T5. Người đại diện theo pháp luật: Ông K2- Chức vụ: Tổng giám đốc Công ty TNHH T6. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Minh T2; nơi cư trú: TDP Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2020, do có một số công trình san lấp không thu hồi được vốn dẫn đến Đảng nợ tiền thuê máy, tiền dầu máy, tiền thuê công nhân với tổng số tiền khoảng hơn 600.000.000 đồng. Lợi dụng mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1966; anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1973 đều trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, thấy ông K1, anh N đặt vấn đề muốn góp vốn để đầu tư làm ăn nên Bùi Văn Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền góp vốn của ông K1, anh N.

Để thực hiện việc chiếm đoạt tiền của ông K1, anh N, Đ đưa ra thông tin không có thật về việc Đảng sở hữu 01 mảnh đồi tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có khả năng xin được giấy phép khai thác đất để ông K1, anh N tin tưởng sẽ chung vốn cùng Đảng mua máy xúc về khai thác đất. Ngày 04/10/2020, Đ điều khiển xe ô tô chở ông K1, anh N đi xem mảnh đồi tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây Đảng chỉ cho ông K1, anh N xem 01 quả đồi đang khai thác dở trên trục đường mòn Hồ Chí Minh sau đó cả 03 người đi về nhà Đảng. Đảng nói với ông K1, anh N là nếu khai thác đất tại quả đồi trên, sau khi trừ các chi phí lương, hao mòn, tiền dầu thì mỗi người sẽ được hưởng 20.000.000 đồng/1tháng. Tin tưởng thông tin Đảng đưa ra, ông K1, anh N đã thống nhất với Đ sẽ đi xem máy xúc để góp tiền mua máy làm ăn chung.

Ngày 05/10/2020, Đ chở ông K1, anh N đến kho bãi của Công ty TNHH T6 (Công ty T6), địa chỉ tại Lô G, KCN Q, huyện M, Thành phố Hà Nội để xem máy xúc. Khi đến bãi xe, Đảng chỉ cho ông K1, anh N xem chiếc máy xúc đào nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200–8, có tem ghi thông số kỹ thuật và số seri máy là MOC 18982. Sau đó, Đảng để ông K1, anh N đứng ngoài bãi, còn Đảng trực tiếp vào Công ty T6, trụ sở tại T10, T, B T và A T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội gặp anh Phạm Mạnh T3, sinh năm 1983; trú tại tổ G, phường B, quận L, thành phố Hà Nội là người đại diện của công ty để thuê máy xúc. Đảng đặt vấn đề thuê 01 chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200-8 trong thời hạn 03 tháng 20 ngày thì anh T3 thống nhất với Đảng giá thuê là 100.000.000 đồng/01 tháng, tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng. Đảng đồng ý và cung cấp thông tin Công ty TNHH Đ2 (Công ty Đ2) do chị Bùi Thị Hải Y, sinh năm 2000, chức danh Giám đốc, là con gái Đảng đại diện cho công ty Đ2 đứng tên để ký hợp đồng thuê máy xúc và đề nghị anh T3 gửi hợp đồng qua dịch vụ chuyển phát nhanh về nhà Đảng để chị Y ký hợp đồng. Thống nhất xong, Đảng ra bãi xe nói dối với ông K1, anh N về việc Đảng đã hỏi mua chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200-8 và được báo giá là 1.800.000.000 đồng. Tin tưởng Đ nói thật nên ông K1, anh N đồng ý góp vốn mỗi người 600.000.000 đồng để mua chung chiếc máy xúc trên.

Ngày 09/10/2020 ông K1, anh N trực tiếp giao số tiền 1.200.000.000 đồng cho Đ (mỗi người 600.000.000 đồng) tại nhà ông K1, đồng thời yêu cầu Đ cùng đi đến Công ty T6 để mua máy xúc nhưng Đảng lấy lý do là công ty không nhận tiền mặt, Đ đã thanh toán tiền mua máy thông qua chuyển khoản và công ty đang làm thủ tục chưa lấy được máy ngay.

Khoảng 02 ngày sau, Bùi Văn Đ nhận được Hợp đồng từ Công ty T6, Đảng nhờ chị Bùi Thị Hải Y với danh nghĩa Công ty Đ2 ký tên, đóng dấu để ký Hợp đồng thuê máy xúc với Công ty T6. Ngày 16/10/2020, Đảng đến Văn phòng giao dịch của Công ty để hoàn thiện hợp đồng thuê 01 chiếc máy đào bánh xích của hãng K3 - Nhật Bản, loại PC200-8M0, số Serial 18982 như thoả thuận trong hợp đồng, sau đó Đảng đến quầy giao dịch của Ngân hàng T7 - Chi nhánh M (gần Công ty T6) để chuyển số tiền 600.000.000 đồng (bao gồm tiền đặt cọc 300.000.000 đồng và tiền thuê máy trong 03 tháng là 300.000.000 đồng) vào tài khoản Ngân hàng TMCP T7 - Khối khách hàng doanh nghiệp lớn - Hội sở số 1382.1677.982.015 của Công ty T6. Nhận được tiền, Công ty T6 bàn giao chiếc máy xúc KOMATSU, loại PC200-8M0, số Serial 18982 cho Đảng tại kho bãi của Công ty thì Đảng thuê đơn vị vận chuyển để chuyển chiếc máy xúc này về gửi tại cây xăng X1 thuộc thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam rồi thông báo cho ông K1, anh N về việc Đảng đã mua máy xúc. Ông K1, anh N đến cây xăng X1 xem chiếc máy xúc và xác định chiếc máy xúc này đúng là chiếc máy xúc mà ông K1, anh N đã thống nhất mua cùng Đảng vào ngày 05/10/2020. Khi ông K1, anh N hỏi giấy tờ mua bán và giấy tờ chứng minh nguồn gốc chiếc máy xúc trên thì Đảng nói bên công ty sẽ chuyển về sau.

Khoảng hơn 01 tháng sau, không thấy Đ đưa giấy tờ và không đưa máy vào tỉnh Thanh Hóa để làm việc như đã thỏa thuận. Ngày 13/11/2020, tại nhà Đảng, ông K1, anh N yêu cầu Đảng viết giấy tờ biên nhận thì Đảng đã viết giấy biên nhận có nội dung thống nhất với ông K1, anh N mỗi người góp 600.000.000 đồng để mua máy xúc đào bánh xích nhãn hiệu KOMATSU của Nhật Bản loại PC200 – 8, số seri máy là MOC 18982 với giá 1.800.000.000 đồng, nay đã mua xong và đưa về sử dụng.

Đến cuối tháng 12/2020, thấy Đảng khất lần và không đưa máy đi làm thì ông K1, anh N đề nghị bán máy để thu hồi vốn. Đảng đề nghị với ông K1, anh N bán lại máy xúc đó cho Đảng thì ông K1, anh N yêu cầu Đảng phải giao tiền và lập giấy tờ mua bán thì Đ đồng ý. Tuy nhiên, khoảng 10 ngày sau, Đảng tự ý mang máy xúc đi nơi khác mà không thông báo cho ông K1, anh N biết. Ông K1, anh N thường xuyên đến nhà Đảng để yêu cầu Đảng trả tiền thì Đảng trả cho ông K1, anh N số tiền 450.000.000 đồng.

Đến ngày 08/02/2021 do hết hạn hợp đồng thuê máy, Đảng mang chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200-8M0, số S 18982 trả lại cho Công ty T6 thì được công ty hoàn trả lại cho Đ số tiền cọc là 233.333.333 đồng và thanh lý hợp đồng thuê máy xúc. Thấy Đảng mang máy xúc đi nhưng không trả lại tiền nên ông K1, anh N đã gửi đơn tố cáo Đảng có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến đến Công an tỉnh H.

Ngày 19/7/2021, Bùi Văn Đ tiếp tục lấy danh nghĩa Công ty Đ2 đến kho bãi của Công ty T6 để thuê 01 chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU - Nhật Bản, loại PC210-10, số Serial 453590, thời hạn thuê 03 tháng và gia hạn thời hạn thuê thêm 02 tháng, tổng thời hạn thuê đến ngày 18/12/2021. Hết thời hạn thuê máy, Đ vẫn không trả lại máy xúc nên Công ty T6 đã nhiều lần gửi Công văn cho Công ty Đ2 yêu cầu trả lại chiếc máy xúc đã thuê nhưng Công ty Đ2 không hoàn trả lại chiếc máy xúc đã thuê cho Công ty T6.

Ngày 07/9/2022, Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra Quyết định phân công giải quyết nguồn tin báo về tội phạm theo đơn tố giác của ông Nguyễn Văn K1 và anh Nguyễn Văn N. Quá trình kiểm tra xác minh nguồn tin ngày 13/9/2022, Bùi Văn Đ giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh 01 chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU - Nhật Bản, loại PC210-10, số Serial 453590 nhưng được Đảng sơn lại thành máy xúc có nhẫn hiệu KOMATSU – PC300, loại máy LA 201885 màu vàng, Đảng trình bày đây là chiếc máy xúc mua chung cùng ông K1, anh N. Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 04/01/2023 Cơ quan điều tra Công an tỉnh ra Quyết định xử lý tài sản, theo đó giao chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC210-10 cho Đảng, ông K1 và anh N quản lý. Do vụ việc không có dấu hiệu tội phạm, ngày 07/01/2023 Cơ quan điều tra Công an tỉnh căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Ngày 08/8/2023, anh Phạm Mạnh T3 người đại diện của công ty T6 có được thông tin về chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC210-10, số Serial 453590 của Công ty đang được Cơ quan điều tra Công an tỉnh giao cho Đ, ông K1 và anh N quản lý nên đã đến Công an tỉnh H trình báo, cung cấp các tài liệu chứng minh Đảng thuê của công ty MARUBENI chiếc máy xúc nêu trên.

Cơ quan điều tra Công an tỉnh tiến hành xác minh, thu thập tài liệu có đủ căn cứ xác định Đảng không mua mà thuê chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC210-10, số Serial 453590 của công ty T6 nên hành vi của Đảng có dấu hiệu tội phạm. Ngày 30/10/2023 Cơ quan điều tra Công an tỉnh ra Quyết định huỷ quyết định không khởi tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra. Ngày 08/11/2023, Cơ quan cánh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Bùi Văn Đ tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Quá trình thi hành lệnh không thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.

Bùi Văn Đ giao nộp: 04 bản hợp đồng thuê thiết bị số RSA00086/MHE-HAIYEN, mỗi bản có 11 trang, tại trang thứ 11 của bốn bản, mục "ĐẠI DIỆN BÊN CHO THUÊ" đóng dấu tròn đỏ của Công ty T6 và chữ ký đề tên "TỔNG GIÁM ĐỐC HIROAKI KAMOI", mục "ĐẠI DIỆN BÊN THUÊ" để trắng không có chữ ký, không đề tên ai; 02 bản thỏa thuận hợp đồng, số RSA00086/MHE-HAIYEN, mỗi bản có 04 trang, tại trang thứ 04 của hai bản thì một bản mục "ĐẠI DIỆN BÊN B", đóng dấu tròn đỏ của Công ty T6, có chữ ký nhưng không đề tên, bản còn lại có đề tên "TỔNG GIÁM ĐỐC HIROAKI KAMOI", mục "ĐẠI DIỆN BÊN A" để trắng không có chữ ký, không đề tên ai; 01 máy xúc đào bánh xích nhãn hiệu KOMATSU - Nhật Bản, loại PC210-10; màu sơn Vàng; số Serial 453590; số khung KMTPC243EFC453590; số máy 6D107-26638572, tình trạng đã qua sử dụng.

Ông Nguyễn Văn K1 giao nộp 01 Giấy biên nhận đề ngày 13/11/2020. Anh Phạm Mạnh T3 giao nộp 01 bộ tài liệu Sao y bản chính khổ A4, gồm: Hợp đồng thuê thiết bị số RSA000188/MHE-HY ngày 19/7/2021 giữa Bùi Văn Đ, sinh năm 1977, chỗ ở tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam với Công ty T6, có địa chỉ tại số A đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội, gồm 07 tờ; 01 bản photo khổ A4 gồm 02 tờ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp C có mã số doanh nghiệp 0700835685 đăng ký lần đầu ngày 31/01/2020; 01 bản sao y bản chính khổ A4 Biên bản giao nhận ngày 19/7/2021 giữa Công ty T6 với Bùi Văn Đ tại T - Thanh Hóa; 01 bộ tài liệu Sao y bản chính khổ A4 hồ sơ máy, gồm 08 tờ; 01 bộ tài liệu Sao y bản chính khổ A4 Công văn trao đổi giữa Công ty với Công ty Đ2, gồm 06 tờ; 01 bộ tài liệu Sao y bản chính khổ A4 Hóa đơn giá trị gia tăng giữa Công ty T6 với Công ty Đ2, gồm 03 tờ; 01 bản photo khổ A4 gồm 16 tờ, bao gồm: Hợp đồng thuê thiết bị số RSA00086/MHE-HAIYEN ngày 16/10/2020 giữa Bùi Văn Đ, sinh năm 1977, chỗ ở tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam với Công ty T6; Hóa đơn giá trị gia tăng giữa MARUBENI với Công ty Đ2; Biên bản thanh lý hợp đồng giữa Công ty T6 với Công ty Đ2; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp C có mã số doanh nghiệp G đăng ký lần đầu ngày 31/01/2020; hồ sơ máy xúc; Hợp đồng cho thuê thiết bị năm 2020 gồm 06 tờ, 02 phụ lục hợp đồng, biên bản thanh lý gồm 06 tờ, đều đóng dấu đỏ của Công ty; Hóa đơn cho thuê năm 2020-2021 gồm 02 tờ; Bộ hồ sơ máy (Giấy chứng nhận chất lượng, đăng kiểm, tờ khai nhập khẩu) gồm 06 tờ; Hợp đồng cho thuê thiết bị năm 2021 gồm 08 tờ; Bộ hồ sơ máy năm 2021 gồm 08 tờ; Hóa đơn cho thuê thiết bị gồm 03 tờ; Công văn trao đổi giữa Công ty và Công ty Đ2, gồm 06 tờ; Giấy ủy quyền, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, gồm 06 tờ; Hợp đồng thuê thiết bị số RSA00086/MHE-HAIYEN ngày 16/10/2020 giữa Công ty T6 và Công ty Đ2; Phụ lục số 01 (ngày 16/10/2020) và Phụ lục số 02 (ngày 15/01/2021) của Hợp đồng (gồm 17 tờ, bản sao công chứng); 01 Biên bản thanh lý ký ngày 08/02/2021 của Hợp đồng thuê thiết bị số RSA00086/MHE-HAIYEN (gồm 03 tờ, bản sao công chứng); 01 bộ hồ sơ của máy xúc đào PC200-8M0 số seri 18982 (là tài sản thuê theo Hợp đồng số RSA00086/MHE-HAIYEN), gồm: 01 (một) Giấy chứng nhận chất lượng và số lượng máy (C/Q) cấp ngày 29/07/2020; 01 (một) Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng nhập khẩu số 20KMC/226320, do Cục Đ3 cấp ngày 27/08/2020, bản sao công chứng; 01 Hợp đồng thuê thiết bị số RSA000188/MHE-HY ngày 19/07/2021, giữa Công ty T6 và Công ty Đ2 (gồm 12 tờ, bản sao công chứng); 01 Bộ hồ sơ của máy xúc đào PC210-10 số seri 453590 (là tài sản thuê theo Hợp đồng số RSA000188/MHE-HY), gồm: 01 Giấy chứng nhận chất lượng và số lượng máy (C/Q) cấp ngày 02/12/2020; 01 Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) cấp ngày 10/12/2020; 01 Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng nhập khẩu số 21KMC/001903 do Cục Đ3 cấp ngày 19/01/2021, bản sao công chứng.

Tại Bản kết luận giám định số 789/KL-KTHS ngày 03/11/2023, của Phòng K4 Công an tỉnh H kết luận: Chiếc máy xúc đào bánh xích nhãn hiệu KOMATSU – Nhật Bản, loại PC210-10, màu sơn vàng, số Serial 453590, số khung nguyên thủy KMTPC243EFC453590, số máy nguyên thủy 6D107-26638572.

Ngày 31/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra Quyết định trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của Bùi Văn Đ trên các tài liệu gồm: Giấy biên nhận đề ngày 13/11/2020 (ký hiệu A1), Biên bản giao nhận đề ngày 16/10/2020 (ký hiệu A2), Giấy A4 có nội dung “Kính gửi: CÔNG TY THNN THIẾT BỊ NẶNG MARUBENI” (ký hiệu A3), Biên bản giao nhận đề ngày 19/7/2021(ký hiệu A4). Tại Bản kết luận giám định số 799/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh H kết luận: Chữ ký đứng tên Bùi Văn Đ, chữ viết “Bùi Văng Đ1” dưới mục “người góp tiền”, “Bên nhận (KH)”, “Người viết đơn”, “Bên nhận (VC)” trên các mẫu cần giám định và chữ viết phần nội dung trên mẫu cần giám định (Giấy biên nhận) so với chữ ký, chữ viết của Bùi Văn Đ trên mẫu so sánh do cùng một người ký ra.

Quá trình điều tra vụ án, ngày 23/11/2023 anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố D, làng Đ, phường K, quận H, thành phố Hà Nội gửi đơn trình báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H có nội dung: Tháng 11/2022, tại tỉnh Hòa Bình, anh T4 có thỏa thuận và bàn giao cho Bùi Văn Đ thuê 01 chiếc máy xúc lật bánh lốp nhãn hiệu LIUGONG, kiểu: CLG835H, màu sơn vàng, xuất xứ Trung Quốc, số khung JR2101176, số máy E2-16P21B010045, trong thời hạn 03 tháng, sau đó đến nay Đảng không hoàn trả cho anh T4 chiếc máy xúc trên. Cơ quan điều tra Công an tỉnh đã tiến hành đấu tranh đối với Bùi Văn Đ. Tuy nhiên, Đ khai nhận có mua chiếc máy xúc trên của anh T4 với giá 350.000.000 đồng, sau đó Đảng đã mang chiếc máy xúc trên sang Lào để làm và bán lại cho một người dân Lào không rõ nhân thân, lai lịch. Vụ việc trên xảy ra tại huyện L, tỉnh Hòa Bình, ngày 21/3/2024 Cơ quan điều tra Công an tỉnh H đã chuyển nguồn tin về tội phạm nêu trên đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh H để kiểm tra, xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.

Về xử lý vật chứng thu giữ: Tài liệu điều tra xác định chiếc máy xúc đào bánh xích nhãn hiệu KOMATSU - Nhật Bản; loại PC210-10; màu sơn Vàng; số Serial 453590; số khung KMTPC243EFC453590; số máy 6D107-26638572, tình trạng cũ đã qua sử dụng thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty T6. Ngày 06/11/2023, Tổng Giám đốc Công ty T6 ủy quyền cho anh Phạm Mạnh T3 nhận lại tài sản theo Giấy ủy quyền số 58/2023/UQ-MHE. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC210-10 số Serial 453590 cho anh Phạm Mạnh T3 cùng bản chính các giấy tờ có liên quan do Công ty T6 là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn K1 và anh Nguyễn Văn N yêu cầu Bùi Văn Đ hoàn trả số tiền 750.000.000 đồng, đến nay Đảng chưa trả số tiền này cho ông K1, anh N. Anh Phạm Mạnh T3 đại diện theo ủy quyền của Công ty T6 không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với Bùi Văn Đ.

Cáo trạng số 51/CT-VKS-P2 ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Bùi Văn Đ và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ từ 12 (Mười hai) năm đến 13 (Mười ba) năm tù, phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước. Về trách nhiệm dân sự áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Bùi Văn Đ có trách nhiệm trả ông Nguyễn Văn K1 và anh Nguyễn Văn N mỗi người với số tiền 375.000.000 đồng. Ngoài ra còn đề nghị về quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

Quan điểm của Luật sư Nguyễn Đình T1 người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn Đ: Nhất trí về tội danh và điều khoản như Cáo trạng đã truy tố; tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, về hình phạt bổ sung đề nghị HĐXX miễn cho bị cáo.

Bị cáo Bùi Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với bào chữa của Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của bản thân đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích chiếm đoạt tiền, Bùi Văn Đ đã đưa ra các thông tin không có thật về việc Đảng đang sở hữu 01 quả đồi tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có khả năng xin được giấy phép khai thác đất để ông Nguyễn Văn K1 và anh Nguyễn Văn N góp vốn cùng Đảng mua chung 01 chiếc máy xúc về khai thác đất kiếm lời. Để tạo niềm tin, Đ dẫn ông K1, anh N vào tỉnh Thanh Hoá để xem quả đồi Đảng đang xin phép khai thác; ngày 05/10/2020 Đảng cùng ông K1, anh N đến Kho bãi của Công ty T6 ở huyện M, thành phố Hà Nội để cùng nhau mua 01 chiếc máy xúc đào nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200-8, có tem ghi thông số kỹ thuật và số seri máy là MOC 18982. Thống nhất xong, Đảng một mình vào Công ty MARUBENI lấy danh nghĩa Công ty Đ2 do chị Bùi Thị Hải Y làm giám đốc để Hợp đồng thuê chiếc máy xúc nêu trên. Tin tưởng Đảng, ngày 09/10/2020 tại nhà ông K1 ở thôn N, xã T, huyện T, ông K1 và anh N giao cho Đảng 1.200.000.000 đồng để Đảng mua máy xúc, trong đó của ông K1 600.000.000 đồng, anh N 600.000.000 đồng. Nhận được tiền, Đảng đến Công ty T6 mang chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200–8, số seri máy là MOC 18982 như hợp đồng thuê về gửi ở cây xăng X1 thuộc thôn P, xã T để ông K1, anh N tin tưởng. Thấy Đ không đưa máy xúc đi làm và giấy tờ mua máy xúc nên ông K1, anh N yêu cầu Đảng trả lại tiền thì Đ đồng ý. Ông K1, anh N thoả thuận nhường lại máy xúc cho Đ và Đảng có trách nhiệm trả lại tiền cho ông K1, anh N, khi nào trả xong tiền thì mới được mang máy xúc đi. Do hết hợp đồng thuê máy, Đảng đã mang chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200-8 trả lại cho Công ty T6. Phát hiện Đảng mang máy xúc đi mà không báo cho ông K1, anh N biết nên ông K1, anh N nhiều lần yêu cầu Đảng trả tiền thì Đ đã trả lại được 450.000.000 đồng, còn lại 750.000.000 đồng Đảng chưa trả cho ông K1, anh N. Khi ông K1, anh N gửi đơn tố giác hành vi phạm tội của Đảng đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh, Đảng đã giao nộp chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC210-10, số Serial 453590 do Đảng thuê của Công ty T6 nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình. Căn cứ kết quả xác minh, Cơ quan điều tra giao cho ông K1, anh N và Đảng cùng quản lý. Phát hiện chiếc máy xúc trên đang do ông K1 và anh N quản lý, ngày 08/8/2023 anh Phạm Mạnh T3 đại diện của Công ty T6 đề nghị Cơ quan điều tra Công an tỉnh thu hồi trả lại công ty MARUBENI chiếc máy xúc nêu trên. Như vậy, số tiền Đảng chiếm đoạt của ông K1, anh N là 1.200.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn Đ đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố là đúng người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ với số tiền lớn, gây bức xúc cho người bị hại và làm mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Bùi Văn Đ không phải chịu.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo cũng đã bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại, trong quá trình chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo tiếp tục nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam để khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại, bị cáo có bố đẻ là thương binh loại A và được tặng thưởng nhiều Huân chương chiến sỹ giải phóng nên bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại ông Nguyễn Văn K1 và anh Nguyễn Văn N đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Bùi Văn Đ có trách nhiệm hoàn trả số tiền 750.000.000 đồng.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam để khắc phục cho các bị hại. Tại phiên toà ông K1 và anh N không nhận số tiền trên. Vì vậy, số tiền này được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

[6]. Về các vấn đề khác:

- Đối với ciếc máy xúc Bùi Văn Đ giao nộp cho Cơ quan điều tra ngày 13/9/2022, Đ khai mua chung cùng ông K1, ông N. Ngày 04/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử lý trả lại tài sản giao chiếc máy xúc trên cho Bùi Văn Đ, ông Nguyễn Văn K1 và anh Nguyễn Văn N cùng quản lý. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định, chiếc máy xúc mà Đảng giao nộp có nhãn hiệu PC210-10, số Serial 453590, số khung KMTPC243EFC453590 là tài sản của Công ty T6, Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện hợp pháp của Công ty T6. Số tiền 2.080.000.000 đồng Đảng chưa thanh toán theo hợp đồng thuê máy xúc ngày 19/7/2021, Công ty T6 có quan điểm sẽ khởi kiện yêu cầu Đảng trả tiền thuê máy xúc bằng vụ án dân sự.

- Đối với chị Bùi Thị Hải Y, sinh năm 2000, chức danh Giám đốc công ty Đ2 là con gái Đảng đứng tên ký hợp đồng thuê máy xúc. Chị Y khai công ty Đ2 do Bùi Văn Đ điều hành, quản lý và chị chỉ đứng tên trên danh nghĩa, khi chuyển tiền cho Công ty T6 thì Bùi Văn Đ bảo chị Y ghi nội dung công ty Đ2 trả tiền mua máy xúc. Chị Y không biết Bùi Văn Đ lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông K1, anh N nên chị Y không đồng phạm với Đảng. Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[7]. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt Bùi Văn Đ 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2023.
  2. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Bùi Văn Đ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Bùi Văn Đ có trách nhiệm trả ông Nguyễn Văn K1 số tiền 375.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng) và anh Nguyễn Văn N số tiền 375 .000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

    Ghi nhận gia đình bị cáo Bùi Văn Đ nộp số tiền 5.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002157 ngày 28/8/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam để trả cho những người bị hại, số tiền này sẽ được đối trừ trong quá trình thi hành án.

  4. Về án phí:
    • - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 34.000.000 đồng (Ba mươi tư triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên thì hàng tháng bị cáo phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Hà Nam;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; bị hại; luật sư;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

11

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HSST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (fraudulent appropriation of property)

  • Số bản án: 52/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Fraudulent appropriation of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Với mục đích chiếm đoạt tiền, Bùi Văn Đ đã đưa ra các thông tin không có thật về việc Đảng đang sở hữu 01 quả đồi tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có khả năng xin được giấy phép khai thác đất để ông Nguyễn Văn K1 và anh Nguyễn Văn N góp vốn cùng Đảng mua chung 01 chiếc máy xúc về khai thác đất kiếm lời. Để tạo niềm tin, Đ dẫn ông K1, anh N vào tỉnh Thanh Hoá để xem quả đồi Đảng đang xin phép khai thác; ngày 05/10/2020 Đảng cùng ông K1, anh N đến Kho bãi của Công ty T6 ở huyện M, thành phố Hà Nội để cùng nhau mua 01 chiếc máy xúc đào nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200–8, có tem ghi thông số kỹ thuật và số seri máy là MOC 18982. Thống nhất xong, Đảng một mình vào Công ty MARUBENI lấy danh nghĩa Công ty Đ2 do chị Bùi Thị Hải Y làm giám đốc để Hợp đồng thuê chiếc máy xúc nêu trên. Tin tưởng Đảng, ngày 09/10/2020 tại nhà ông K1 ở thôn N, xã T, huyện T, ông K1 và anh N giao cho Đảng 1.200.000.000 đồng để Đảng mua máy xúc, trong đó của ông K1 600.000.000 đồng, anh N 600.000.000 đồng. Nhận được tiền, Đảng đến Công ty T6 mang chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200–8, số seri máy là MOC 18982 như hợp đồng thuê về gửi ở cây xăng X1 thuộc thôn P, xã T để ông K1, anh N tin tưởng. Thấy Đ không đưa máy xúc đi làm và giấy tờ mua máy xúc nên ông K1, anh N yêu cầu Đảng trả lại tiền thì Đ đồng ý. Ông K1, anh N thoả thuận nhường lại máy xúc cho Đ và Đảng có trách nhiệm trả lại tiền cho ông K1, anh N, khi nào trả xong tiền thì mới được mang máy xúc đi. Do hết hợp đồng thuê máy, Đảng đã mang chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC200–8 trả lại cho Công ty T6. Phát hiện Đảng mang máy xúc đi mà không báo cho ông K1, anh N biết nên ông K1, anh N nhiều lần yêu cầu Đảng trả tiền thì Đ đã trả lại được 450.000.000 đồng, còn lại 750.000.000 đồng Đảng chưa trả cho ông K1, anh N. Khi ông K1, anh N gửi đơn tố giác hành vi phạm tội của Đảng đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh, Đảng đã giao nộp chiếc máy xúc nhãn hiệu KOMATSU, loại PC210-10, số Serial 453590 do Đảng thuê của Công ty T6 nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình. Căn cứ kết quả xác minh, Cơ quan điều tra giao cho ông K1, anh N và Đảng cùng quản lý. Phát hiện chiếc máy xúc trên đang do ông K1 và anh N quản lý, ngày 08/8/2023 anh Phạm Mạnh T3 đại diện của Công ty T6 đề nghị Cơ quan điều tra Công an tỉnh thu hồi trả lại công ty MARUBENI chiếc máy xúc nêu trên. Như vậy, số tiền Đảng chiếm đoạt của ông K1, anh N là 1.200.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger