Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS - PT

Ngày: 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Công Đoàn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thuỷ và ông Trần Văn San.

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/HSPT ngày 26/7/2024 đối với bị cáo Lê Quang T, Trần Tuấn DTrần Hải V, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Quang T, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Tiến H và bà Đỗ Thị N; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/6/2021, bị Công an huyện L, tỉnh Hà Nam xử phạt hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”, cùng ngày T đã nộp đủ số tiền trên.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2023 đến ngày 02/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.

2. Trần Tuấn D, sinh ngày 24/9/2006; nơi cư trú: Thôn S, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn D1 và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/01/2024, bị Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 29/01/2024.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 28/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Tuấn D: Ông Trần Văn D1 và bà Nguyễn Thị L; cùng nơi cư trú: Thôn S, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam, tại phiên toà có mặt bà L.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Tuấn D: Bà Phạm Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có mặt.

3. Trần Hải V, sinh ngày 25/3/2005; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Học sinh; con ông Trần Văn C và bà Trần Thị H1; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/01/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hưng Yên khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày 24/01/2024 chuyển tạm giam. Ngày 06/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Các bị cáo không kháng cáo:

  • - Nguyễn Thành N2, sinh ngày 25/4/2005; nơi cư trú: Tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Nguyễn Huy N3, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Ngô Đình N4, sinh ngày 05/3/2006; nơi cư trú: Thôn B N, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Trịnh Quốc T1, sinh ngày 18/7/2006; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  • - Trần Sơn Đ, sinh năm 2001; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Nguyễn Minh S, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn B P, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

  • - Ông Lê Tiến H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Bà Trần Thị H1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Ông Đinh Xuân Q, sinh năm 1966; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Anh Lê Văn D2, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố số C, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Anh Dương Quang L1, sinh ngày 16/12/2006. Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Thế B và bà Nguyễn Thị H2; cùng nơi cư trú: Tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Anh Phạm Quang C1, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn A N, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Anh Phạm Chiến C2, sinh ngày 01/01/2008. Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn B1 và bà Bùi Thị H3; cùng cư trú tại: Thôn H, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 20/11/2023, Phạm Quang C1, sinh năm 2001; trú tại thôn A N, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam điều khiển xe mô tô chở chị Trần Thị Thanh N5, sinh năm 2004; trú tại tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam và chị Phạm Trà G, sinh năm 2005; trú tại thôn C, xã B, huyện B đi cùng với nhóm bạn gồm (Nguyễn Huy T2, Nguyễn Huy N3, Ngô Đình N4, Trần Tuấn D, Trần Sơn Đ, Nguyễn Minh S, Vũ Văn T3, Cao Duy A, Vũ Quang D3, Phạm Vũ Đức Đ1, Đỗ Văn Q1, Nguyễn Tiến V1, Nguyễn Vân A1) đi từ nhà chị N5 về nhà anh C1 chơi. Cùng đi về nhà anh C1 còn có nhóm bạn của chị N5 gồm (Nguyễn Hoàng L2, Phạm Thu H4, Nguyễn Thị Trà M, Nguyễn Như Q2, Nguyễn Việt H5, Nguyễn Văn N6). Khi đi đến đường T thuộc tổ dân phố P, phường C, giữa Ngô Đình N4 và anh Nguyễn Hoàng L2 xảy ra mâu thuẫn nên Ngô Đình N4 điều khiển xe đuổi theo Nguyễn Hoàng L2. Thấy vậy, Nguyễn Hoàng L2 chở H4 vượt lên trước nên xảy ra va với xe mô tô của anh Nguyễn Tiến V1 đang chở bạn gái làm xe mô tô đổ, anh V1 và bạn gái ngã ra đường. Thấy vậy, Ngô Đình N4Trần Tuấn D đuổi theo Nguyễn Hoàng L2 thì anh C1 đuổi theo can ngăn. Cùng lúc này, tại khu vực Nguyễn Tiến V1 bị ngã, anh Nguyễn Văn M1 là bố của M đến chửi, tát M và không cho M đi chơi thì T2Đ xông vào chửi, đánh anh M1, được mọi người can ngăn nên T2Đ không đánh anh M1 nữa. Khoảng 20 giờ cùng ngày Dương Quang L1 đi đến sân bóng thuộc tổ dân phố P, khi đi qua khu vực Nguyễn Tiến V1 bị ngã thì bị hai đến ba người trong đám đông đánh, hiện chưa xác định được ai đánh L1. L1 gọi điện thoại cho Lê Quang T và nói “Anh ơi em vừa đi qua ngã tư đèn xanh đèn đỏ để đi ra sân bóng Đông Nội đá bóng thì bị bọn nào đánh ý”. T hỏi L1 bị bọn nào đánh thì Dương Quang L1 nói không biết. Lúc này, T đang ngồi uống nước tại quán nước “1996” ở xã Y, thị xã D cùng Nguyễn Thành N2, T nói với Nguyễn Thành N2 “Mày đi với anh”. Đồng thời, T đi vào bếp của quán nước lấy một con dao dạng dao mèo tự chế dài 58cm đựng trong hộp bìa caton mà T để ở đó từ trước ra đưa cho Nguyễn Thành N2 cầm, rồi điều khiển xe mô tô BKS 90B4 - 042.41 chở Nguyễn Thành N2 đi tìm người đánh Dương Quang L1. Khi đi đến đoạn Công an thị xã D, Nguyễn Thành N2 mở hộp bìa catton ra, nhìn thấy bên trong có một con dao nên hỏi T “Em anh bị đánh à”, T nói “Ừ”. Mặc dù biết T mang theo dao đi đánh nhau nhưng N2 vẫn đồng ý cầm dao giúp T, đi cùng T để hỗ trợ T khi đánh nhau. Khi đến khu vực Nguyễn Tiến V1 bị đổ xe, T gặp nhóm anh C1 và nghĩ đây là nhóm người đã đánh Dương Quang L1 trước đó nên xuống xe, nói “Đ. mẹ chúng mày, thằng nào vừa đánh em tao, chúng mày dừng lại” thì anh C1 ra ôm T can ngăn và nói "Thôi em ơi, anh xin em, hôm nay là ngày vui của anh, chắc hiểu nhầm thôi”, T nói “Anh bỏ em ra”. Lúc này nghe thấy có người nói “Công an đến kìa, chạy đi” thì nhóm anh C1 lên xe mô tô đi về hướng H. T chở Nguyễn Thành N2 đuổi theo sau, rồi vượt lên chạy phía trước nhóm anh C1. Đến ngã tư của đoạn đường đôi đối diện cây xăng P thuộc tổ dân phố P, phường C, T tắt máy, dựng xe lại. Thấy nhóm bạn của anh C1 đến gần, T xuống xe rút con dao trong hộp bìa catton do Nguyễn Thành N2 đang cầm, chạy ra giữa đường và chửi “Đ. mẹ thằng nào vừa đánh em tao” thì T2, Đ, Ngô Đình N4, D, N3, S đứng chửi nhau với TĐ lao vào đạp về phía Trường A4 nhát nhưng bị hụt chân nên không trúng người T và bị ngã ra đường. Thấy vậy, T2, N4, D, N3, S nhặt ghế nhựa ở trước cửa quán của anh Lê Văn D2, sinh năm 1987 trú tại tổ dân phố số C, phường H, thị xã D lao vào đánh T. Anh C1 ôm T can ngăn thì T vùng vằng đẩy anh C1 ra. Anh C1 quay lại can ngăn T2, Đ, N4, D2, N3, S. Khi Đ đang chạy về phía T, anh C1 ôm Đăng lại thì bị T khua chém từ phía sau trúng vào cánh tay trái của anh C1 làm rách da chảy máu. Anh C1 chửi “Đ. mẹ chúng mày cút hết đi” rồi đi ra lấy xe mô tô chở chị G đi về trước. T2, Đ, N4, D2, N3, S tiếp tục cầm ghế lao vào đánh T, T thấy ai lao đến thì vung dao khua chém về phía người đó để không bị đánh. Lúc này, T2, Đ, N4, D2, N3, S dồn đuổi T sang khu vực trước cửa cây xăng P. Lúc này, Trịnh Quốc T1; Hoàng Quang A2; Phạm Chiến C2, sinh ngày 01/01/2008 đều trú tại thôn H, xã M, thị xã D cùng một số người nữa đứng xem tại khu vực T đang đánh nhau. Tại đây, S cầm ghế nhựa lao vào đập về phía T, Đ cầm áo khoác vụt về phía T thì bị T chém lại trúng áo nên Đ bị ngã. T2 cầm ghế nhựa lao vào đập T một nhát thì T khua dao chém trúng vào tay trái của T2. Trần Tuấn D nhặt chiếc ghế nhựa dưới đất cầm ném về phía người thanh niên cầm chai, N3 với tay nhặt chiếc ghế nhựa dưới đất nhưng D đã nhặt được trước nên N3 cùng nhóm của mình lao vào đánh T. T bỏ chạy về phía cửa quán ăn N7 của bà Trần Thị H1, sinh năm 1978 trú tại tổ dân phố P, phường C, thị xã D, ở phía trên cây xăng P thì nhóm T2 đuổi theo đánh. Quang A2, T1, C2 và những người đứng xem cũng bỏ chạy theo T. Thấy vậy, Nguyễn Thành N2 vào trong cây xăng P của ông Đinh Xuân Q, sinh năm 1966 trú tại thôn H, xã M, thị xã D lấy một chiếc điếu cày cầm ra để hỗ trợ T đánh nhau. T cầm dao chạy sang chiều đường P - H, đứng trước đầu xe ô tô tải đang dừng lại thìbị Ngô Đình N4Nguyễn Minh S cầm ghế nhựa ném nhưng không trúng. T chạy sang phía cửa quán ăn N7 thì T2Đ nhặt ghế nhựa ném, Đ bị ngã ra đường thì Hoàng Quang A2 cầm vỏ chai rượu bằng thủy tinh ném về phía Đ nhưng không trúng. Do nhóm của T2 đông người nên T, Nguyễn Thành N2, Quang A2, T1 lùi vào trong cửa quán ăn N7. Lúc này, Ngô Đình N4 nhặt một viên gạch ở vệ đường đập vỡ thành 03 mảnh, rồi cùng Vũ Văn T3 cầm 03 mảnh viên gạch này ném về phía mái tôn quán ăn N7. Thấy vậy, T cầm dao, Quang A2 cầm điếu cày, Trịnh Quốc T1 cầm cốc thủy tinh đi ra đứng trước cửa. Khi đó Trần Hải V là con của bà H1 cầm một vỏ chai rượu bằng thủy tinh chạy từ trong ra chửi “Đ. con mẹ chúng mày” thì T, Quang A2, T1. C2 cầm một con dao chặt xương cùng một số nam thanh niên nữa đuổi đánh nhóm của T2. Trần Hải V chạy được khoảng 05 mét thì bà H1 túm giữ lại rồi đẩy quay lại quán. Thấy bị đuổi đánh, nhóm của T2 lên xe bỏ chạy. Không đuổi đánh được nên T, Quang A2, T1, C2 quay lại quán ăn N7.

Hậu quả: Nguyễn Huy T2 bị chém đứt gân, đứt mạch máu cẳng tay trái, được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh Viện V2 - Hà Nội. Anh Phạm Văn C3 bị rách da, chảy máu ở mặt ngoài cánh tay trái khâu 03 mũi tại Trung tâm y tế huyện L; 04 chiếc ghế nhựa bị gẫy vỡ.

Vật chứng thu giữ gồm: Lê Quang T giao nộp: 01 (một) con dao bằng kim loại có tổng chiều dài 58cm, trong đó lưỡi dao dài 46cm gồm hai màu đen trắng, bản rộng nhất có kích thước 4,7cm, đầu lưỡi vát nhọn, chuôi dao bằng gỗ màu vàng, hai đầu chuôi được bọc kim loại màu vàng, có tổng chiều dài cả chuôi là 12cm, hình trụ tròn; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, loại xe SH màu trắng đen, BKS 90B4 - 042.41, số máy KF42E0078471, số khung RLHKF4226PY700208, xe cũ đã qua sử dụng; thu giữ tại hiện trường: 10 mảnh vỡ thuỷ tinh màu nâu (loại vỏ chai bia Hà Nội), 10 viên gạch đỏ bị vỡ có kích thước các loại khác nhau; 01 chiếc ghế nhựa màu xanh cao 30cm đã bị gãy vỡ mất một chân, còn lại 03 chân; 03 mảnh nhựa vỡ của chiếc ghế nhựa màu xanh; 01 chiếc điếu cày bằng tre dài 50cm, đường kính 05cm; bà Tống Thị T4, sinh năm 1969, cư trú thôn H, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam (là chủ cây xăng P) giao nộp: 01 điếu cày bằng tre dài 60cm, đường kính 05cm, phần thân điếu màu nâu; 01 đoạn video có thời lượng 02 phút 30 giây từ 20 giờ 17 phút 20 giây đến 20 giờ 19 phút 50 giây ngày 20/11/2023 được lưu trữ vào trong đĩa DVD, ký hiệu GR01; anh Đỗ Văn Q1, sinh năm 2003, cư trú tại thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam giao nộp: 01 (một) đoạn video có thời lượng 49 giây được quay lại bằng điện thoại di động ngày 20/11/2023 tại khu vực đường đôi trước cửa cây xăng P lưu trữ trong đĩa DVD ký hiệu GR02.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam đã xác định được 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, loại xe SH màu trắng đen, BKS 90B4 - 042.41, số máy KF42E0078471, số khung RLHKF4226PY700208 là tài sản hợp pháp của ông Lê Tiến H, sinh năm 1969, nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam, ông H là bố đẻ của bị cáo Lê Quang T, T đã tự ý lấy xe mô tô BKS 90B4 – 042.41 sử dụng, ông H không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô BKS 90B4 - 042.41 cho ông Lê Tiến H.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã ban hành Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Huy T2, Hoàng Quang A2Vũ Văn T3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên cho đến nay T2, Quang A2T3 không có mặt tại địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D chưa bắt được 03 bị can trên nên đã tách vụ án đối với hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị can T2, Quang A2T3 để điều tra, truy tố, xét xử sau.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quyết định:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: Lê Quang T, Nguyễn Thành N2, Ngô Đình N4, Trần Tuấn D, Trịnh Quốc T1, Nguyễn Huy N3; Trần Hải V, Trần Sơn ĐNguyễn Minh S; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Lê Quang T, Trần Hải V, Nguyễn Minh S, Trần Sơn ĐNguyễn Huy N3; Điều 91, 101 đối với các bị cáo: Ngô Đình N4, Trần Tuấn DTrịnh Quốc T1; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 và Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Huy N3; Điều 38 Bộ luật Hình sự với các bị cáo Lê Quang T, Nguyễn Thành N2, Ngô Đình N4, Trần Tuấn D, Trịnh Quốc T1, Nguyễn Huy N3Trần Hải V; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Sơn ĐNguyễn Minh S.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quang T, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Huy N3, Ngô Đình N4, Trần Tuấn D, Trịnh Quốc T1, Trần Sơn Đ, Trần Hải VNguyễn Minh S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

Xử phạt:

  • - Lê Quang T 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/11/2023.
  • - Trần Hải V 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 15/01/2023 đến ngày 06/02/2024.
  • - Trần Tuấn D 28 (hai mươi tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù được trừ đi thời gian đã tạm giam từ ngày 21/8/2023 đến ngày 13/10/2023 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 55 (năm mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 27/6/2024, bị cáo Lê Quang T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Quang T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Ngày 02/7/2024, bị cáo Trần Hải V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Hải V giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Ngày 05/7/2024, bị cáo Trần Tuấn D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Trần Tuấn D giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn DTrần Hải V; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt đối với các bị cáo.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Quang T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Xử phạt bị cáo Lê Quang T từ 33 (Ba mươi ba) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trần Tuấn DPhạm Thị N1 tại phiên toà: Nhất trí về tội danh như bản án sơ thẩm đã tuyên, đối với hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về nội dung đơn kháng cáo: Bị cáo Lê Quang T, Trần Tuấn DTrần Hải V kháng cáo trong thời hạn luật định, đơn thể hiện đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Quang T, Trần Tuấn DTrần Hải V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 20/11/2023, Lê Quang T đang ngồi uống nước cùng Nguyễn Thành N2 tại quán nước “1996” ở xã Y thì anh Dương Quang 1 gọi điện thoại thông báo cho T biết L1 bị 01 nhóm thanh niên đánh tại khu vực ngã tư đường T thuộc Tổ dân phố P, phường C, thị xã D nên T rủ Nguyễn Thành N2 cùng đi với T đến tìm đánh nhóm người đã đánh Dương Quang L1. Trước khi đi, T đem theo 01 con dao bằng kim loại, dài 58cm đưa cho Nguyễn Thành N2 cầm, rồi điều khiển xe mô tô BKS 90B4-042.41 chở N2 đến khu vực L1 bị đánh. Khi đến khu vực ngã tư đường T đối diện với cây xăng P thì TN2 gặp nhóm của Nguyễn Huy N3, Ngô Đình N4, Trần Tuấn DTrần Sơn Đ, Nguyễn Minh S, Nguyễn Huy T2, Vũ Văn T3 và một số người khác đang đi xe mô tô về phía H. Nghĩ nhóm Nguyễn Huy Nghĩa là người đã đánh L1 trước đó nên T xuống xe, cầm dao chạy ra đường chửi: “Đ.mẹ thằng nào vừa đánh em tao” thì N3, N4, D, Đ, T2, S, T3 chửi nhau với T. Đ lao vào đạp T rồi T2, Đ, Ngô Đình N4, D, N3, S cầm ghế nhựa trước cửa quán của anh Lê Văn D2 lao vào đánh T. Lúc này T cầm dao khua chém về phía nhóm của T2 thì trúng vào tay trái của T2, làm đứt gân, đứt mạch máu cẳng tay trái, T2, Đ, Ngô Đình N4, D2, N3S tiếp tục cầm ghế đuổi đánh T thì T chạy về quán ăn N7 của bà Trần Thị H1. Thấy vậy, Nguyễn Thành N2 chạy vào trong cây xăng P lấy 01chiếc điếu cày cầm ra để hỗ trợ T. Ngô Đình N4 nhặt 01 viên gạch ở vệ đường đập vỡ thành niều mảnh rồi cùng Vũ Văn T3 cầm các mảnh vỡ ném lên mài tôn của quán ăn N7. Thấy vậy, Trịnh Quốc T1 cầm 01 chiếc cốc bằng thủy tinh, Phạm Quang A3 cầm chiếc điếu cày bằng tre, Phạm Công C4 cầm 01 con dao loại dùng để chặt xương, Trần Hải V cầm 01 vỏ chai rượu bằng thủy tinh từ trong quán Nam vũ chạy ra đuổi đánh nhóm T2 thì cả nhóm lên xe mô tô bỏ chạy về phía Hòa Mạc.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho những người dân xung quanh, gây mất trật tự nơi công cộng, làm hạn chế đến việc đi lại của người dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự địa phương. Như vậy, bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lê Quang T, Trần Tuấn DTrần Hải V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo:

- Đối với kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn DTrần Hải V, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Bị cáo Trần Tuấn D nhân thân xấu, đã từng bị kết án; bị cáo Trần Hải V đang bị cơ quan điều tra khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội mới. Khi lượng hình Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Trần Hải V 30 (Ba mươi) tháng tù, bị cáo Trần Tuấn D 28 (hai mươi tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không nặng. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo D xuất trình đơn xin xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, B1 tổ quốc ghi công mang tên ông Trần Văn T5 là anh trai của ông nội bị cáo, đây là tình tiết mới cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tuy nhiên tình tiết trên không làm thay đổi tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Đối với bị cáo Trần Hải V không đưa ra được các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới ngoài các tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét. Do vậy, đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn D, đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo không giam giữ của bị cáo Trần Hải V không có căn cứ nên không được chấp nhận.

- Đối với kháng cáo của bị cáo Lê Quang T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên trong vụ án này bị cáo phạm tội mang tính bột phát với vai đồng phạm giản đơn, bị cáo là người bị nhóm của Đ, T2, Ngô Đình N4, D, N3, S đánh trước. Khi lượng hình Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Lê Quang T 39 (Ba mươi chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo xuất trình biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm theo nguyện vọng của bị cáo, thể hiện bị cáo ăn năn hối cải. Đây là tình tiết mới do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội cũng như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên toà. Xét thấy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm.

  • - Kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn DTrần Hải V không được chấp nhận nên phải chịu theo quy định.
  • - Kháng cáo của bị cáo Lê Quang T được chấp nhận nên không phải chịu.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn D, đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo không giam giữ của bị cáo Trần Hải V; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 21/6/2024 của Toà án nhân thị xã D, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt đối với bị cáo D và bị cáo V.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Quang T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 21/6/2024 của Toà án nhân thị xã D, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt đối với bị cáo.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Quang T, Trần Tuấn DTrần Hải V; Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Tuấn D.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quang T, Trần Tuấn D, Trần Hải V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt:

  • - Lê Quang T 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/11/2023.
  • - Trần Hải V 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 15/01/2023 đến ngày 06/02/2024.
  • - Trần Tuấn D 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù được trừ đi thời gian đã tạm giam từ ngày 21/8/2023 đến ngày 13/10/2023 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 55 (năm mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2023.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

  • - Bị cáo Trần Tuấn DTrần Hải V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
  • - Bị cáo Lê Quang T không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh Hà Nam;
  • - TAND, VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Công an thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS - PT ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 52/2024/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 20/11/2023, Lê Quang T đang ngồi uống nước cùng Nguyễn Thành N2 tại quán nước “1996” ở xã Y thì anh Dương Quang l gọi điện thoại thông báo cho T biết L1 bị 01 nhóm thanh niên đánh tại khu vực ngã tư đường T thuộc Tổ dân phố P, phường C, thị xã D nên T rủ Nguyễn Thành N2 cùng đi với T đến tìm đánh nhóm người đã đánh Dương Quang L1. Trước khi đi, T đem theo 01 con dao bằng kim loại, dài 58cm đưa cho Nguyễn Thành N2 cầm, rồi điều khiển xe mô tô BKS 90B4-042.41 chở N2 đến khu vực L1 bị đánh. Khi đến khu vực ngã tư đường T đối diện với cây xăng P thì T và N2 gặp nhóm của Nguyễn Huy N3, Ngô Đình N4, Trần Tuấn D và Trần Sơn Đ, Nguyễn Minh S, Nguyễn Huy T2, Vũ Văn T3 và một số người khác đang đi xe mô tô về phía H. Nghĩ nhóm Nguyễn Huy Nghĩa là người đã đánh L1 trước đó nên T xuống xe, cầm dao chạy ra đường chửi: “Đ.mẹ thằng nào vừa đánh em tao” thì N3, N4, D, Đ, T2, S, T3 chửi nhau với T. Đ lao vào đạp T rồi T2, Đ, Ngô Đình N4, D, N3, S cầm ghế nhựa trước cửa quán của anh Lê Văn D2 lao vào đánh T. Lúc này T cầm dao khua chém về phía nhóm của T2 thì trúng vào tay trái của T2, làm đứt gân, đứt mạch máu cẳng tay trái, T2, Đ, Ngô Đình N4, D2, N3 và S tiếp tục cầm ghế đuổi đánh T thì T chạy về quán ăn N7 của bà Trần Thị H1. Thấy vậy, Nguyễn Thành N2 chạy vào trong cây xăng P lấy 01chiếc điếu cày cầm ra để hỗ trợ T. Ngô Đình N4 nhặt 01 viên gạch ở vệ đường đập vỡ thành niều mảnh rồi cùng Vũ Văn T3 cầm các mảnh vỡ ném lên mài tôn của quán ăn N7. Thấy vậy, Trịnh Quốc T1 cầm 01 chiếc cốc bằng thủy tinh, Phạm Quang A3 cầm chiếc điếu cày bằng tre, Phạm Công C4 cầm 01 con dao loại dùng để chặt xương, Trần Hải V cầm 01 vỏ chai rượu bằng thủy tinh từ trong quán Nam vũ chạy ra đuổi đánh nhóm T2 thì cả nhóm lên xe mô tô bỏ chạy về phía Hòa Mạc.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger