|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS - ST Ngày: 09 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Trang
Bà Nguyễn Thị Thu Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Vi Hoa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST – HS, ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Trần Thanh K. Sinh ngày: 10/01/1974. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: thôn N, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; bố đẻ: Trần Đình T, sinh năm 1932 (đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị M, sinh năm 1932 ( đã chết); Bị cáo có vợ: Trần Thị L, sinh năm: 1976, có 03 con. Con lớn, sinh năm: 1996; Con nhỏ, sinh năm: 2012. Tiền án: Ngày 25/8/2004 bị Toà án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi: “Đánh bạc” (chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung: phạt tiền); Tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 07/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an Tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: anh Phạm Văn T1 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 27/02/2024, Trần Thanh K đi bộ từ nhà ở khu vực thôn N, xã X mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến Thị trấn X, K gặp một người đàn ông lạ mặt, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi, biết người này có ma túy bán, K hỏi mua 1.800.000 đồng Heroine. Người đàn ông đồng ý nhận tiền và đưa lại cho K 01 túi ni lông màu trắng, dạng túi zip, kích thước (7x12)cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Khiết nhận, kiểm tra, xác định là H, cầm ở tay trái và đi bộ tìm nơi sử dụng. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, K đang đi bộ ở đường dong thuộc tổ E, thị trấn X thì bị Tổ công tác Công an Thị trấn X, huyện X đang làm nhiệm vụ thấy K có biểu hiện nghi vấn đã yêu cầu kiểm tra. Khiết đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác gói nhỏ vừa mua. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, thu giữ và niêm phong túi ni lông màu trắng trong phong bì thư ký hiệu là M, sau đó đưa K cùng vật chứng về UBND Thị trấn X lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, Công an Thị trấn X đã bàn giao hồ sơ, tài liệu cùng đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày 27/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thanh K nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết quả xét nghiệm định tính Morphin đối với Trần Thanh K ngày 27/02/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Trần Thanh K dương tính với M1.
Tại bản kết luận giám định số 527/KL-KTHS ngày 01/03/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu M: 2,398 gam.
Cáo trạng số 46/CT-VKSXT ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố Trần Thanh K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố Trần Thanh K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Thanh K từ 04 năm tù đến 04 năm 6 tháng tù. Miễn hình phạt tiền bổ sung đối với K. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định;
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì thêm đối với quyết định truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm của bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 50 ngày 27/02/2024. Kết luận giám định số 527/KL- KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh N. Lời khai của người chứng kiến. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 27/02/2024 Trần Thanh K đã có hành vi tàng trữ trong người 2,398 gam Heroine. Hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại tới quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, chính sách phòng, chống tệ nạn ma túy mà Đảng và Nhà nước, nhân dân đang thực hiện quyết liệt cho nên cần nghiêm khắc phê phán và trừng trị thích đáng.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; Bố đẻ bị cáo là người có công được tặng H1, Huy chương kháng chiến; Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 25/8/2004 bị Toà án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi: “Đánh bạc” (chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung: phạt tiền) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử cần xử phạt tù với mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội. Xét không cần phạt tiền bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo mua về sử dụng cho bản thân không nhằm mục đích bán kiếm lời.
- Tang vật của vụ án: Tich thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
- - Tuyên bố Trần Thanh K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Xử phạt Trần Thanh K 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2024.
- - Miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định (Chi tiết có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường ngày 03/7/2024).
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Quỳnh |
Bản án số 52/2024/HS - ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 52/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh K mua 2,398 g H về sử dụng thì bị bắt quả tang
