Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 52/2024/HS - ST

Ngày 13/5/2024

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Hưng.
2. Ông Trương Khánh Thành.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:Chu Thanh T, Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST - HS ngày 10/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST - HS ngày 26/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn T1, SN 27/10/1965; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT và C ở: Xóm C, xã P, huyện Đ, Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Chức vụ: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 7/10. Con ông: Phạm Văn S, sinh năm 1922 (đã chết); Con bà: Phạm Thị Đ, sinh năm 1926 (đã chết). Vợ: Nguyễn Thị S1, sinh năm 1968. Con: có 02 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1989. Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 07 trong gia đình.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định XPVPHC số 169, ngày 7/7/2008 của Công an huyện Đ xử phạt Thái 500.000 đồng về hành vi đánh bạc;
Bị cáo bị tam giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Tiến T2, SN 14/8/1958; Giới tính: Nam.
Nơi ĐKHKTT và C ở: Xóm C, xã P, huyện Đ, Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Chức vụ: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 7/10. Con ông: Nguyễn Văn Đ1 (đã chết); Con bà: Lương Thị C1 (đã chết). Vợ: Đào Thị T3, sinh năm 1963; Con: có 04 con. Lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1988. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình;
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tam giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Công B, SN 23/8/1978; Giới tính: Nam.
Nơi ĐKHKTT và C ở: Xóm C, xã P, huyện Đ, Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Chức vụ: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12. Là Đảng viên Đ2. Con ông: Nguyễn Huy C2, (đã chết); Con bà: Đỗ Mai T4, sinh năm 1958. Vợ: Trần Thị T5, sinh năm 1980 ; Con: 01 con, sinh năm 2005. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình;
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tam giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Lê Thanh T6, SN 25/5/1982. Giới tính: Nam.
Nơi ĐKHKTT và C ở: Xóm C, xã P, huyện Đ, Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Chức vụ: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 10/12. Con ông: Lê Thanh T7, sinh năm 1949; Con bà: Phạm Thị B1, sinh năm 1954. Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1986; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2013. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình;
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tam giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Nguyễn Văn T8, SN /23/8/1982; Giới tính: Nam.
Nơi ĐKHKTT và C ở: Xóm C, xã P, huyện Đ, Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Chức vụ: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12. Con ông: Nguyễn Tiến T2, sinh năm 1958; Con bà: Đào Thị T3, sinh năm 1963. Vợ: Hứa Thị L, sinh năm 1986; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình;
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tam giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Nguyễn Huy T9, SN 01/02/1956; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT và C ở: Xóm C, xã P, huyện Đ, Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Chức vụ: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 7/10. Con ông: Nguyễn Văn H1, (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T10, (đã chết). Vợ: Trần Thị V, sinh năm 1963; Con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1987. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 01;
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tam giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên: Nguyễn Văn T11, SN 10/10/1976; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT và C ở: Xóm C, xã P, huyện Đ, Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Chức vụ: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12. Con ông: Nguyễn Văn H1, (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T10, (đã chết). Vợ, Con: Chưa có. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình;
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tam giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

8. Họ và tên: Phạm Văn P, SN 06/10/1966; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT và C ở: Xóm C, xã P, huyện Đ, Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm chè; Chức vụ: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 7/10. Con ông: Phạm Hồng T12, (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1935. Vợ: Nguyễn Thị T13, sinh năm 1964; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1995. Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình;
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tam giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 26/02/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có QLNVLQ:Đào Thị T3, sinh năm 1963. Trú tại: xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt);

* Người chứng kiến: ông Vũ Văn H2, sinh năm 1972. Trú tại: xóm C, xã P, huyên Đ, Thái Nguyên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 23/02/2024, Phạm Văn T1, Phạm Văn P, Nguyễn Công B, Lê Thanh T6, Nguyễn Văn T11, Nguyễn Huy T9 đến nhà Nguyễn Tiến T2Nguyễn Văn T8 (T8 là con của Tuất, ở cùng nhà với T2), ở xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên chơi. Sau đó, cả nhóm 8 người cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền, tất cả đều đồng ý. Nhóm 08 người đi ra khu vực gian sao chè phía sau nhà chính của gia đình Tuất để đánh bạc, Phạm Văn T1 cầm chiếc chiếu nhựa màu xanh - trắng có sẵn để cạnh rìa tường nhà trải xuống nền khu vực gian sao chè, còn T2 lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn trên máy vò chè làm công cụ rồi cả nhóm cùng nhau ngồi đánh bạc. Cả nhóm đánh bạc tới khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác của Công an huyện ĐCông an xã P, huyện Đ phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với 08 đối tượng, thu giữ trên mặt chiếu vị trí các đối tượng đánh bạc số tiền 8.280.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; Thu giữ trên người Tuyên số tiền 390.000 đồng; thu giữ trên người Tuất số tiền 3.200.000 đồng; 01 chiếu nhựa màu xanh - trắng đồng thời đưa các đối tượng về Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo quy định.

Về hình thức đánh bạc bằng hình thức đánh "Liêng": Các đối tượng thống nhất sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân, chia lần lượt mỗi người 03 quân bài theo chiều kim đồng hồ, trước mỗi ván người chơi đặt tiền cược “Gà” là 10.000 đồng, (sau khi chia bài xong người chia bài (là người cầm cái) được quyền “Tố” (đặt thêm tiền cược) đầu tiên; quy định mỗi lần tố ít nhất là 10.000 đồng, nhiều nhất là 50.000 đồng, mỗi người chơi tố không quá 03 lần, ai không theo thì úp bài sẽ thua số tiền “Gà”, ai tố theo mà thua thì bị mất cả tiền “Gà” và tiền “Tố” theo. Người thắng ván bài là người tố nhưng không có ai theo hoặc thắng bằng cách so bài hoặc tính điểm, người thắng sẽ được tiền “Gà” và tiền những người chơi khác tố.Cách thức so bài thắng thua như sau: Người có 03 quân bài giống nhau thì được gọi là “Sáp”; 03 quân bài liên tiếp sẽ được gọi là “Liêng"; 03 quân bài chỉ có các quân J, Q, K thì được gọi là “Ảnh”. “Sáp” là lớn nhất, sau đó đến "Liêng" và đến “Ảnh”. Khi bài không có "Sáp", "Liêng", "Ảnh" thì sẽ tính điểm. Cách tính điểm là: 3 quân bài cộng lại theo quy ước: Các quân bài từ A đến 9 được tính theo thang điểm từ 1 đến 9; các quân bài 10, J, Q, K được tính là không có điểm. Khi tính điểm thì 09 điểm là cao nhất.Vị trí đánh bạc lần lượt theo chiều kim đồng hồ thì T11, Phạm T1, P, T2, T9, Lê T6, T8, B.

Khi tham gia đánh bạc T8 mang theo số tiền 1.200.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; T11 mang theo số tiền 900.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; P mang theo số tiền 820.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; PhạmThái mang theo số tiền 1.000.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; Bằng mang theo số tiền 1.600.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc; Lê T6 mang theo số tiền 1.000.000đồng, sử dụng hết để đánh bạc; T9 mang theo số tiền 1.350.000 đồng, sử dụng 960.000đồng để đánh bạc, cất 390.000 đồng trong người (T9 xác định không dùng số tiền 390.000 đồng để đánh bạc); T2 mang theo số tiền 4.000.000 đồng, sử dụng 800.000 đồng để đánh bạc, cất 3.200.000 đồng trong người (Tuất xác định không dùng số tiền 3.200.000 đồng để đánh bạc). Như vậy tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc ngày 23/02/2024 là 8.280.000 đồng.

Vật chứng của vụ án gồm: 11.870.000 đồng tiền Ngân hàng N (Trong đó có 8.280.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc; 3.590.000 đồng là tiền thu giữ trên người của T2T9); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa màu xanh - trắng. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, chờ xử lý.

Tại cáo trạng số 48/CT - VKSĐT ngày 09/4/2024, VKSND dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn P, Nguyễn Công B, Lê Thanh T6, Nguyễn Văn T11, Nguyễn Huy T9, Nguyễn Văn T8Nguyễn Tiến T2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 BLHS đối với các bị cáo Phạm Văn T1, P, Lê Thanh T6, T11, T9, T2; Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 BLHS đối với các bị cáo B, T8. Xử phạt: các bị cáo Phạm Văn T1, P, Lê Thanh T6, T11, T9 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; bị cáo Nguyễn Tiến T2 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo; xử phạt: các bị cáo B, T8 mỗi bị cáo từ 30 đến 40 triệu đồng.

Phạt bổ sung các bị cáo Phạm Văn T1, P, Lê Thanh T6, T11, T9, T2, mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng sung quỹ Nhà nước; đề nghị xử lý vật chứng và buộc 6/8 bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Miễn án phí HSST cho bị cáo T2, T9 do là người trên 60 tuổi.

Tại phần tranh luận: Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận. Thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội, không oan; nói lời sau cùng: đều xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

{1}. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điểu tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2.}Về căn cứ buộc tội: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ diễn biến, hành vi nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 23/02/2024, tại nhà ở của Nguyễn Tiến T2 thuộc xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Các đối tượng gồm: Phạm Văn T1, Nguyễn Tiến T2, Nguyễn Công B, Lê Thanh T6, Nguyễn Văn T8, Nguyễn Huy T9, Nguyễn Văn T11, Phạm Văn P đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền thì bị Tổ công tác Công an huyện ĐCông an xã P, huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 8.280.000 đồng và một số vật chứng có liên quan khác. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Bản cáo trạng số 48/CT - VKSĐT ngày 09/4/2024 và quan điểm đề nghị tại phiên tòa của VKSND huyện Đại Từ đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và có căn cứ.

Nội dung khỏan 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền ... có trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

{3}. Xét tính chất hành vi và vai trò phạm tội của các bị cáo:

Tính chất hành vi đánh bạc của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi đến thăm vợ bị cáo T2 ốm, 8/8 bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc băng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Quá trình đánh bạc không có sự rủ rê, lôi kéo, tổ chức hay xúi giục người khác đánh bạc; không cho vay, cầm cố hoặc thu tiền đánh bạc; không phân công canh gác, cảnh giới để đánh bạc; số tiền đánh bạc đủ định lượng cấu thành tội phạm nên các bị cáo đều có vai trò đồng phạm giản đơn như nhau là người thực hiện hành vi “Đánh bạc”.

{4}. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

8/8 bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. 8/8 bị cáo đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 BLHS là: "Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng""Người phạm tội thành khẩn khai báo". Ngoài ra, bị cáo B có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, bản thân được tặng thưởng nhiều giấy khen trong quá trình lao động sản xuất và sinh sống tại địa phương, được cấp ủy và chính quyền địa phương có văn bản đề nghị Tòa án và VKS cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất; bị cáo T8 có đơn đề nghị, được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất nên có thể xem xét cho bị cáo B, T8 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

{5}. Xét nhân thân của các bị cáo thì thấy: các bị cáo đều được sinh ra và lớn lên trong gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đủ nhận thức về các việc làm đúng sai của bản thân; cơ bản các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, do ham chơi và coi thường pháp luật nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

{6}. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy. Các bị cáo đều là những người lao động bình thường (cơ bản là người đi làm thuê), đều là những người chưa có tiền án, tiền sự (trừ bị cáo Phạm Văn T1 đã bị xử phạt hành chính từ năm 2008, đến nay đã được xóa). Các bị cáo đều phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đều có ít nhất từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên; đều thực hiện hành vi đánh bạc với vai trò đồng phạm giản đơn, do nhất thời ham chơi; không có tính tổ chức hay dụ dỗ, xúi giục người khác phạm tội. Khi quyết định hình phạt, HĐXX cần cân nhắc, xem xét và đối chiếu với các quy định của pháp luật để có mức hình phạt cho phù hợp, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, đúng pháp luật, vừa đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: cần phạt bổ sung các bị cáo hình phạt chính không phải là phạt tiền một khoản tiền theo quy định để sung quỹ Nhà nước.

{7}.Về vật chứng vụ án:

+ Số tiền 8.280.000 đồng tiền Ngân hàng N. Xác định là công cụ, phương tiện phạm tội cần được tịch thu sung Quỹ Nhà nước;

+ Số tiền 390.000 đồng thu giữ của T9 và 3.200.000đ thu giữ của T2. Xác định không liên quan đến vụ án cần trả lại cho các bị cáo nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

+ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa màu xanh - trắng. Là công cụ phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng, được tịch thu tiêu hủy.

{8}. Về án phí: 6/8 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Miễn án phí HSST cho bị cáo T2, T9 do là người trên 60 tuổi.

{9}. Các nội dung có liên quan khác: Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc tại gia đình Nguyễn Tiến T2. Qúa trình điều tra xác định khi thực hiện hành vi đánh bạc thì bà Đào Thị T3 là vợ của T2 không biết, không đồng ý cho các bị cáo đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà T3.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn T1, Phạm Văn P, Nguyễn Công B, Lê Thanh T6, Nguyễn Văn T11, Nguyễn Huy T9, Nguyễn V1Nguyễn Tiến T2 phạm tội “Đánh bạc”;

1. Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

  • + Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tiến T2 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt: bị cáo Phạm Văn P 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt: bị cáo Lê Thanh T6 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T11 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Xử phạt: bị cáo Nguyễn Huy T9 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn T1, T2, P, Lê Văn T14, T11, T9 cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

* Hình Phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Phạm Văn T1, T2, P, Lê Văn T14, T11, T9 mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; 58 và Điều 35 Bộ luật hình sự;

  • + Xử phạt: bị cáo Nguyễn Công B 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng)
  • + Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T8 50.000.000đ (lăm mươi triệu đồng).

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;

  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền: 8.280.000 đồng tiền Ngân hàng N;
  • + Trả lại cho bị cáo T9 số tiền 390.000 và cho bị cáo T2 số tiền 3.200.000đ nhưng đều được tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa màu xanh - trắng.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ - VKSĐT ngày 09/4/2024 của VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cùng các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Văn T1, P, B, Lê Thanh T6, T11, T8 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST sung công quỹ Nhà nước. Miễn án phí HSST cho các bị cáo T2, T9.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các bị cáo và người có QLNVLQ được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định đối với người vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh + huyện Đại Từ;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - THAHS + THADS Đại Từ;
  • - Bị cáo + Người có QLNVLQ;
  • - UBND xã Phú Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ + VT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS - ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về đánh bạc

  • Số bản án: 52/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T + đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger