|
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. THẠCH THẤT-TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày: 17/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ninh
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Văn Miến;
- - Ông Nguyễn Văn Ch.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên toà: Ông Lưu Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Phạm Trọng T, sinh năm 2002 tại xã Kiên Th, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKTT cư trú: thôn Thọ L, xã Kiên Th, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đức T và bà Quách Thị Th; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Phạm Đức M, sinh năm 2005 tại xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKTT cư trú: thôn Thọ Liên, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đức Th và bà Tô Thị L (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Phạm Đức T, sinh năm 1972 (có mặt);
- - Bà Quách Thị T, sinh năm 1976 (có mặt).
Cùng địa chỉ: thôn Thọ L, xã Kiên Th, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn M Ch, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn Cầu L, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Trọng T (sinh năm 2002) và Phạm Đức M (sinh năm 2005) cùng có HKTT: thôn Thọ L, xã Kiên Th, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, đều là người sử dụng ma túy Methamphetamine và đang làm thuê, sinh sống tại thôn Cánh Ch, xã Bình Y huyện Thạch Thất, Hà Nội.
Khoảng 21 giờ 30 ngày 28/12/2023, Phạm Trọng T đang ở chỗ làm thuê thì nhận được cuộc gọi đến từ số điện thoại 0942.951.xxx của một người đàn ông không quen biết, thuê T đi mua hộ ma túy “đá”, hứa trả công số tiền 300.000đồng, T đồng ý. T rủ Phạm Đức M cùng đi mua ma túy để bán lại và hứa sẽ cho M số tiền công là 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng), M đồng ý. Phạm Đức M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx mang BKS 36K5-318.50 (là xe của T) chở T đi đến khu vực nghĩa trang liệt sỹ xã Thạch Xá thuộc thôn Cầu Liêu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất thì đứng đợi. Một lúc sau người đàn ông sử dụng số điện thoại 0942.951.xxx đến rồi đưa cho T số tiền 800.000đồng (tám trăm nghìn đồng) để đi mua ma túy và đợi T mang ma túy về sẽ trả tiền công là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng). M tiếp tục điều khiển xe chở T đi đến khu vực cầu “Cầu Liêu” thuộc địa phận thôn Cầu Liêu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất thì gặp một người đàn ông không quen biết đứng ở mép đường. T hỏi mua ma túy “đá” thì người này đồng ý, T đưa 800.000đồng (tám trăm nghìn đồng) thì được người đàn ông đó chỉ vị trí cất giấu ma túy gần đó. M đứng nổ máy xe đợi phía bên ngoài còn T đi bộ vào chỗ người đàn ông kia chỉ, lấy được hai túi ni lông chứa ma túy “đá” rồi cất vào túi áo khoác phía trước đang mặc trên người. Sau đó T cùng M đi đến điểm hẹn để giao ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra. T đã tự nguyện giao nộp số ma túy vừa mua được, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng tang vật đưa về trụ sở để đấu tranh, làm rõ.
Tang vật thu giữ:
- - 01 (một) túi ni lông kích thước (1,5x2) cm bọc ngoài bởi giấy bạc màu vàng, 01(một) túi ni lông kích thước (2,5x2) cm bọc ngoài bởi giấy bạc màu trắng bên trong hai túi ni lông đều chứa các tinh thể màu trắng (Ký hiệu mẫu A1 - BL 43-44).
- - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong chứa một sim có số thuê bao 0334.591.695 (thu giữ của Phạm Trọng T - BL 56).
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx mang BKS: 36K5-318.50, số khung RLHKC3716MY109974, số máy KC34E1228362.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Trọng T và Phạm Đức M tại thôn Cánh Chủ, xã Bình Yên, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội không phát hiện thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 180/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội, kết luận: (Mẫu A1) Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (bọc ngoài bởi giấy bạc màu vàng) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,165gam. Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (bọc ngoài bởi giấy bạc màu trắng) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,457 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Trọng T, Phạm Đức M đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Phạm Trọng T và Phạm Đức M,có đặc điểm khoảng 35 tuổi, người cao, đeo khẩu trang, T không biết tên tuổi, địa chỉ của người này; việc mua bán diễn ra trên đường, vào ban đêm. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác M nhưng không có thông tin, tài liệu. Vì vậy không có căn cứ để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0942.951.xxx đã thuê T đi mua ma túy có đặc điểm khoảng 40 tuổi, người gầy, đội mũ và đeo khẩu trang, T không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác M nhưng không có thông tin, tài liệu. Vì vậy không có căn cứ để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số điện thoại 0942.951.xxx, qua tra cứu có tên chủ thuê bao là Lê Đình Anh (sinh ngày 05/01/1995; trú tại: thôn Hai Căn, xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước). Xác M tại Công an xã Phú Nghĩa không có công dân nào có thông tin như trên sinh sống trên địa bàn.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx mang BKS: 36K5-318.50, số khung RLHKC3716MY109974, số máy KC34E1228362, qua xác M là xe của Phạm Trọng T. Kết quả tra cứu, chiếc xe trên không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSTT ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Phạm Trọng T và Phạm Đức M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo nhận thấy hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt các bị cáo Phạm Trọng T từ 29 tháng đến 32 tháng tù; Phạm Đức M từ 26 tháng đến 29 tháng tù về tôi Mua bán trái pháp chất ma túy.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì là mẫu vật do phòng Kỹ thuật hình sự hoàn lại sau giám định.
Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước phương tiện phạm tội thu giữ của Phạm Trọng T: - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong chứa một sim có số thuê bao 0334.591.695.
Trả lại cho gia đình bị cáo T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx mang BKS: 36K5-318.50, số khung RLHKC3716MY109974, số máy KC34E1228362.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T và bị cáo M không có công ăn việc làm ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trọng T và Phạm Đức M đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, tang vật của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: khoảng 22 giờ 35 phút ngày 28/12/2023, tại khu vực thôn Cầu Liêu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội, Phạm Trọng T và Phạm Đức M bị bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,622 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích bán kiếm lời.
Hành vi bán trái phép ma túy của bị cáo T và bị cáo M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là đúng pháp luật.
Về vị trí vai trò của các bị cáo như sau: Bị cáo T là người chủ động rủ bị cáo M đi mua ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời số tiền 300.000đ và hứa cho bị cáo M số tiền 100.000₫ nên vai trò của bị cáo T là cao hơn bị cáo M.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước ở tất cả các khâu. Nhà nước nghiêm cấm người dân mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng ma túy dưới mọi hình thức. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm M nhằm cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có điều kiện giáo dục các bị cáo thành người tốt và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Cả hai bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì là mẫu vật do phòng Kỹ thuật hình sự hoàn lại sau giám định.
01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong chứa một sim có số thuê bao 0334.591.695 thu giữ của Phạm Trọng T đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx mang BKS: 36K5-318.50, số khung RLHKC3716MY109974, số máy KC34E1228362 thu giữ của Phạm Trọng T. Tại Phiên Tòa ông Phạm Đức T và bà Quách Thị T là bố đẻ của bị cáo T đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc xe Mô tô trên cho gia đình ông bà vì đây là xe gia đình ông bà mua trả góp, gia đình ông bà mua cho bị báo T đứng tên để lấy phương tiện đi lại chứ T không đóng góp tiền vào việc mua xe. Tại phiên Tòa bị cáo T cũng thừa nhận đây là tài sản của gia đình bị cáo nên đề nghị HĐXX xem xét để trả lại chiếc Mô tô cho gia đình bị cáo. Do vậy HĐXX trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx mang BKS: 36K5-318.50, số khung RLHKC3716MY109974, số máy KC34E1228362 cho ông Phạm Đức T và bà Quách Thị T.
Các vật chứng này có đặc điểm theo Biên bản giao nhận tài sản, tang vật số 48/THA ngày 19/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Phạm Trọng T và bị cáo Phạm Đức M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Phạm Trọng T và Phạm Đức M.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Trọng T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Đức M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì là mẫu vật do phòng Kỹ thuật hình sự haofn lại sau giám định.
- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong chứa một sim có số thuê bao 0334.591.695.
Trả lại cho ông Pạm Đức T và bà Quách Thị T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx mang BKS: 36K5-318.50, số khung RLHKC3716MY109974, số máy KC34E1228362.
Các vật chứng này có đặc điểm theo Biên bản giao nhận tài sản, tang vật số 48/THA ngày 19/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Anh Dũng phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:
Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tạ Thị Ninh |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Phạm Trọng T và Phạm Đức M.
