Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày 16-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lê Đình Khôi.
  • 2. Bà Trần Thị Yến Nhi.

- Thư ký phiên tòa:Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn H (tên gọi khác Lý H1) - sinh năm 1990, tại Đồng Nai; nơi cư trú: số G, khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P – sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Ú – sinh năm 1966ồngH; vợ: Nguyễn Thị Bích N – sinh năm 1991; con: có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 04/5/2012, Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23/8/2023 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Quan Quốc V, Luật sư Văn phòng L1 thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ bào chữa cho bị cáo Trần Văn H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn H, sinh năm 1990, ngụ khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai là đối tượng nghiện ma túy.

Vào ngày 15/08/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có gắn số sim “0978.198.778” gọi cho một đối tượng tên L (không xác định được nhân thân, lai lịch) để mua 4.500.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma túy, H đem về cất giấu tại khu vực rẫy đang làm thuê ở khu A, thị trấn T, H phân ra thành 03 gói ma túy nhỏ có kích thước lần lượt là 5cmx6cm, 3cmx5cm, 2cmx3cm, số ma túy này H cất giấu trong 01 vỏ hộp đựng mắt kính màu xanh để ở trong phòng máy giặt.

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/08/2023, H lấy 01 gói ma túy có kích thước 2cmx3cm để đem đi sử dụng, H cầm gói ma túy ở trên tay phải và vừa dắt xe mô tô biển số 60B3 – 787.81 ra cổng thì phát hiện lực lượng Công an huyện T đến kiểm tra hành chính nên H ném gói ma túy ra phía bên hông xe mô tô cách khoảng 01 mét nhằm mục đích tẩu tán thì bị Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn H thu giữ thêm 02 gói ni lông bên trong chứa ma túy được đựng trong một hộp mắt kính màu xanh trong phòng để máy giặt bên hông nhà.

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn H thừa nhận 03 gói ma túy mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ là ma túy của H, mua về nhằm mục đích sử dụng. (Bút lục 06 – 07, 70 – 76, 84 – 88)

Tang vật thu giữ:

  • - 01 gói ni lông màu trắng có kích thước 2cmx3cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M).
  • - 02 gói ni lông màu trắng có kích thước lần lượt là 5cmx6cm, 3cmx5cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ trong 01 vỏ hộp mắt kính màu xanh ở trong phòng để máy giặt bên hông nhà (ký hiệu M1).
  • - 03 gói ni lông nêu trên đã được niêm phong bảo quản đúng theo quy định pháp luật và gửi đi giám định. Tại Kết luận giám định số 1891/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4175 gam, loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng 15,3204 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng chất ma túy 15,7379 gam, loại Methamphetamine (mẫu vật còn lại sau giám định M là 0,3769 gam; M1 là 15,2701 gam).
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình thủy tinh bên trên nắp có gắn một ống hút màu trắng và 01 nỏ thủy tinh được để trong ngăn tủ đặt ở vị trí trong nhà gần cửa sổ.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có số sim “0978.198.778"; 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu xanh – đen; 01 xe mô tô biển số 60B3-78781.

Tại Cáo trạng số 39/CT-VKSTP – ĐN ngày 20 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Lý H1) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo, cụ thể như sau:

Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017: đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Lý H1) từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm tù giam.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 1891/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ; tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình thủy tinh bên trên nắp có gắn một ống hút màu trắng và 01 nỏ thủy tinh; tịch thu 01 vỏ hộp mắt kính màu xanh; là chất nhà nước cấm sử dụng, công cụ dùng vào mục đích phạm tội.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có số sim “0978.198.778””, số seri: F2LZDL0DKPHD, số máy: MT6G2LL/A, là phương tiện liên lạc dùng vào mục đích phạm tội.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu xanh – đen; 01 xe mô tô biển số 60B3 – 787.81 là tài sản hợp pháp của Trần Văn H, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho Trần Văn H là có căn cứ.
  • - Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Trần Văn H khai nhận mua ma túy của một đối tượng tên L (không xác định được nhân thân, lai lịch), Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để xác minh nhân thân, lai lịch. Tuy nhiên đến nay, Cơ quan điều tra không làm rõ được đối tượng nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự.
  • - Quá trình điều tra, đại diện gia đình Trần Văn H cung cấp giấy tờ thể hiện H từng điều trị tại Bệnh viện T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Trần Văn H. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 35/KL-VPYTW ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B kết luận:
  • - Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng chất kích thích (F15.71 – ICD.10)
  • - Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. (Bút lục 66 – 68)

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với bị cáo và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Tại phiên tòa: Luật sư bào chữa cho bị cáo: thống nhất với cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo H, thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, Luật sư cũng nêu thêm một số tính tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm q, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự, trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo và Luật sư không tranh luận gì khác so với đề nghị của Viện kiểm sát nên không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa cụ thể như sau: Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 23/8/2023 tại khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi Trần Văn H có hành vi tàng trữ một gói nilong hàn kín hai đầu kích thước 2cmx3cm bên trong chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4175 gam nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn H tại khu vực rẫy thuộc khu A, thị trấn T, phát hiện và thu giữ của Trần Văn H 02 gói ni lông màu trắng có kích thước lần lượt là 5cmx6cm, 3cmx5cm bên trong chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 15,3204 gam. Tổng khối lượng chất ma túy mà Trần Văn H tàng trữ là 15,7379 gam, loại Methamphetamine.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 39/CT-VKSTP – ĐN ngày 20 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Lý H1) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản... Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội về ma túy. Song để thỏa mãn nhu cầu ích kỷ của bản thân mà bị cáo đã bất chấp tất cả để tàng trữ trái phép chất ma túy, nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại thời điểm gây án và hiện nay bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm q, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự như: bị cáo có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, các con còn nhỏ, trình độ học vấn thấp nên phần nào hạn chế nhận thức pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo khi lượng hình và tuyên cho bị cáo một mức án hình phù hợp để bị cáo sớm được trở về tái hòa nhập cộng đồng, đồng thời mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo cũng thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, nhưng vẫn đảm bảo các điều kiện đủ để răn đe giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác trong vụ án

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong số 1891/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình thủy tinh bên trên nắp có gắn một ống hút màu trắng và 01 nỏ thủy tinh; 01 vỏ hộp mắt kính màu xanh, vì đây là chất nhà nước cấm và là công cụ dùng trong việc phạm tội.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có số sim “0978.198.778”, số seri: F2LZDL0DKPHD, số máy: MT6G2LL/A, vì đây là phương tiện liên lạc dùng trong việc phạm tội.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu xanh – đen; 01 xe mô tô biển số 60B3 – 787.81 là tài sản hợp pháp của Trần Văn H, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho Trần Văn H là có căn cứ.
  • - Quá trình điều tra, Trần Văn H khai nhận mua ma túy của một đối tượng tên L (không xác định được nhân thân, lai lịch), Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để xác minh nhân thân, lai lịch. Tuy nhiên đến nay, Cơ quan điều tra không làm rõ được đối tượng nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đối với phần bào chữa của Luật sư Quan Quốc V là có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác.

[9] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

òaHHJJJJJjjjdnencsnjcjjjjjjneqjd’ưnhfcowiujJjznqdsnhhudhh

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Tuyên bố bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Lý H1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ vào điểm g, khoản 2, Điều 249; Điều 38, điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • - Xử phạt: Trần Văn H (tên gọi khác: Lý H1) 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2023.
  • Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 1891/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ bên trong đựng ma túy sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình thủy tinh bên trên nắp có gắn một ống hút màu trắng và 01 nỏ thủy tinh; 01 vỏ hộp mắt kính màu xanh;
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng có số sim “0978.198.778" ", số seri: F2LZDL0DKPHD, số máy: MT6G2LL/A.
  • (Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/3/2024).
  • Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự Tân Phú;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệnTân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger