TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày 14/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khỏe
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Văn Vạn
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giảng Văn L; Giới tính: Nam; sinh ngày 30/7/1984; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cha: Giảng Văn N, sinh năm 1931 (đã chết); Mẹ: Đoàn Thị B, sinh năm 1938; (đã chết); A, chị, em ruột có 05 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ: Trang Thị D, sinh năm 1992; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố điều tra tại ngoại (có mặt).
Họ và tên: Đỗ Thị Thu C; Giới tính: Nữ; sinh ngày 18/8/1963; Nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long; Đăng ký thường trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện nay: Số H, khóm C, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cha: Trần Văn N1, sinh năm 1931 (đã chết); Mẹ: Đỗ Thị N2, sinh năm 1941; (đã chết); A, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con lớn thứ hai trong gia đình; Bị cáo không có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố điều tra tại ngoại (có mặt).
Họ và tên: Giảng Trọng N3; giới tính: Nam; sinh ngày 25/6/1994; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cha: Giảng Văn Q, sinh năm 1970; Mẹ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1975; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố điều tra tại ngoại (có mặt).
Họ và tên: Nguyễn Thị Diệp T; giới tính: Nữ; sinh ngày 01/01/1975; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cha: Nguyễn Hữu Hải T1, sinh năm 1938 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị O, sinh năm 1949; (đã chết); A, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Chồng: Giảng Văn L1, sinh năm 1973. Nghề nghiệp: Sửa xe; Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố điều tra tại ngoại (có mặt).
Họ và tên: Nguyễn Văn H; giới tính: Nam; sinh ngày 24/9/1974; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm vườn; Cha: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1939; Mẹ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1946; A, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con lớn thứ 2 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 1982. (Đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố điều tra tại ngoại (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị L2, sinh năm 1961 (có mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, Tiền Giang.
Anh Võ Văn T4, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, Tiền Giang.
Anh Đỗ Lê N4, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Anh Trần Bình D2, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Anh Đặng Bảo T5, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Anh Nguyễn Thanh D3, sinh năm 1993 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Anh Tăng Thanh T6, sinh năm 2000 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Anh Thái Văn C2, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, Tiền Giang.
Anh Cao Văn N5, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ, ngày 23/01/2023 (mùng 02 Tết Nguyên đán năm 2023) tại nhà của Giảng Văn L, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, gồm có: L, Giảng Trọng N3, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T, Đỗ Thị Thu C tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức chơi bài 52 lá, binh 06 lá (binh Ấn Độ), thỏa thuận mỗi ván bài người chơi đặt cược từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng, một người làm cái 02 ván, sau đó xoay vòng lần lượt đến người khác, người nào không làm cái thì bỏ qua đến người kế tiếp.
Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, lúc này L đang làm cái, chia bài, gồm có: N3, H, T, C đặt tiền (không nhớ cụ thể số tiền), chưa phân chia thắng thua thì Đỗ Lê N4, chức vụ: Phó Trưởng công an xã T, huyện C cùng Nguyễn Thanh D3 - Công an ấp B1, Võ Văn T4 - Công an ấp B2, Tăng Thanh T6 lực lượng dân quân xã và Thái Văn C2 - Đội dân phòng ấp B đến bắt quả tang, thu giữ số tiền dùng đánh bạc tại chiếu bạc, cụ thể: Giảng Văn L số tiền 1.900.000 đồng, Giảng Trọng N3 số tiền 1.500.000 đồng, Đỗ Thị Thu C số tiền 2.100.000 đồng, Nguyễn Thị Diệp T số tiền 1.100.000 đồng, Nguyễn Văn H số tiền 550.000 đồng, tổng cộng: 7.150.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ trên người của L số tiền 20.000.000 đồng, trên người của N3 số tiền 10.000.000 đồng, trên người T số tiền 2.050.000 đồng. Tất cả số tiền, sau khi kiểm đếm thì N4 để vào túi ny lông cùng bộ bài, rồi mời tất cả những người tham gia đánh bạc về trụ sở Công an xã T làm việc. Đối với số tiền thu giữ, N4 đem về trụ sở Công an xã cất giữ riêng và chỉ đạo Đặng Bảo T5 – Công an viên, lập Biên bản vụ đánh bạc, thể hiện số tiền thu giữ trong biên bản là 800.000 đồng và tiến hành lập thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.
Khi làm việc tại trụ sở Công an xã, Đỗ Lê N4 yêu cầu L đưa tiền để Nhã bỏ qua, không lập hồ sơ vụ việc, L chấp nhận đưa số tiền 5.000.000 đồng, tương tự N3 đưa N4 số tiền 500.000 đồng. Đồng thời, N4 yêu cầu những người tham gia đánh bạc nộp phạt mỗi người số tiền 1.500.000 đồng, nên N4 trả lại cho L số tiền 13.500.000 đồng trong số tiền 20.000.000 đồng tạm giữ của L; trả N3 số tiền 8.000.000 đồng, trả T số tiền 550.000 đồng. Đối với H mượn L số tiền 1.500.000 đồng để đóng phạt, còn C không đồng ý nộp phạt. Sau đó, N4 cho tất cả ra về. Đến ngày 31/01/2023, Trưởng Công an xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 104, 105, 106, 107, 108 đối với Giảng Văn L, Nguyễn Thị Diệp T, Nguyễn Văn H, Giảng Trọng N3, Trần Thị Lệ T7 (Đỗ Thị Thu C), về hành vi đánh bạc, phạt số tiền 1.500.000 đồng và Quyết định tịch thu tang vật vi phạm hành chính số 04 ngày 31/01/2023 số tiền 800.000 đồng.
Đến ngày 13/3/2023, Đoàn kiểm tra của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Cai Lậy kiểm tra tại Chi bộ Công an xã T. Vào ngày 15/3/2023, N4 đưa Cao Văn N5 là Công an ấp B3, xã T số tiền 8.300.000 đồng (gồm 6.000.000 đồng N4 nhận của L, N3, T7, H mỗi người 1.500.000 đồng tiền nộp phạt và lấy số tiền 2.100.000 đồng thu giữ của C (Trần Thị Lệ T7) nộp số tiền 1.500.000 đồng, cùng 800.000 đồng tiền tịch thu tang vật) đến nộp tại Ngân hàng V chi nhánh T9 – Phòng G.
Đối với số tiền đánh bạc của Đỗ Thị Thu C 2.100.000 đồng, sau khi nộp phạt 1.500.000 đồng, còn lại 600.000 đồng, Đỗ Lê N4 đã liên hệ trả lại cho C.
Vật chứng thu giữ: 01 bộ bài tây, đã qua sử dụng (thiếu 01 lá 5 rô), số tiền 4.250.000 đồng Đỗ Lê N4 tự nguyện giao nộp. Số tiền 600.000 đồng Đỗ Thị Thu C tự nguyện giao nộp. Số tiền 2.300.000 đồng trích thu từ tiền huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định tịch thu tang vật.
Đối với các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Công an xã T, ngày 26/12/2023 Công an huyện C ra các Quyết định số 4823, 4824, 4825, 4826, 4827, 4849 hủy bỏ Quyết định xử lý hành chính số 104, 105, 106, 107, 108 ngày 31/01/2023 của Công an xã T đối với Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T, Đỗ Thị Thu C và Quyết định tịch thu tang vật vi phạm hành chính số 04 ngày 31/01/2023 của Công an xã T.
Trong quá trình điều tra, các bị cáo Giảng Văn L, Đỗ Thị Thu C, Giảng Trọng N3, Nguyễn Thị Diệp T, Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với hành vi của Đỗ Lê N4 đã bị Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 354 Bộ luật Hình sự.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố các bị cáo Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, t khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Giảng Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Giảng Trọng Nhân T8 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thu C từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diệp T từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn T4, Đỗ Lê N4, anh Trần Bình D2, anh Đặng Bảo T5, anh Nguyễn Thanh D3, anh Tăng Thanh T6, anh Thái Văn C2, anh Cao Văn N5 vắng mặt, sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng với các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện vào khoảng 23 giờ ngày 23/01/2023, tại nhà của Giảng Văn L thuộc ấp B, xã T, huyện C, L cùng với Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Thị Diệp T, Nguyễn Văn H thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài 52 lá loại binh 06 lá (binh Ấn Độ), làm cái xoay vòng, người chơi tham đặt tiền mỗi ván thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất 100.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc của L, N3, T, C, H là 7.150.000 đồng. Do đó, cáo trạng số 42/CT-VKSCB ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố các bị cáo Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Xét, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với tính chất, mức độ nghiêm trọng và với ý thức xem thường pháp luật, các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì muốn thu lợi bất chính và thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến cuộc sống, hạnh phúc của các gia đình, đây là một loại tệ nạn xã hội là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Đối với bị cáo Giảng Văn L: Trong vụ án này bị cáo là người đang làm cái, chia bài và dùng số tiền để đánh bạc là 1.900.000 đồng nên mức hình phạt sẽ cao hơn so với các bị cáo khác. Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, cũng đủ để bị cáo cải tạo bản thân thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[6] Đối với bị cáo Đỗ Thị Thu C: Trong vụ án này bị cáo dùng số tiền đánh bạc 2.100.000 đồng, nên mức hình phạt bị cáo sẽ thấp hơn bị cáo L ngang bằng so với các bị cáo còn lại. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, cũng đủ để bị cáo cải tạo bản thân thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[7] Đối với bị cáo Giảng Trọng N3: Trong vụ án này bị cáo dùng số tiền đánh bạc 1.500.000 đồng, nên mức hình phạt bị cáo sẽ thấp hơn bị cáo L, ngang bằng so với các bị cáo còn lại. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, cũng đủ để bị cáo cải tạo bản thân thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[8] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Diệp T: Trong vụ án này bị cáo dùng số tiền đánh bạc 1.100.000 đồng, nên mức hình phạt bị cáo sẽ thấp hơn bị cáo L, ngang bằng so với các bị cáo còn lại. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, cũng đủ để bị cáo cải tạo bản thân thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[9] Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Trong vụ án này bị cáo dùng số tiền đánh bạc 550.000 đồng, nên mức hình phạt bị cáo sẽ thấp hơn bị cáo L, ngang bằng với các bị cáo còn lại. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, cũng đủ để bị cáo cải tạo bản thân thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét, các bị cáo L, N3, C, H, T hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, không nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền cho các bị cáo Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T.
Đối với hành vi của Đỗ Lê N4 nhận tiền của người vi phạm, thực hiện không đúng trình tự, thủ tục trong tiếp nhận, xử lý tin báo về tội phạm, đề xuất ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc phạm tội hình sự. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Đỗ Lê N4 về tội “Nhận hối lộ” quy định tại 354 Bộ luật Hình sự.
Đối với Trần Bình D2, Đặng Bảo T5, Nguyễn Thanh D3, Võ Văn T4, Tăng Thanh T6, Thái Văn C2 có tham gia bắt đánh bạc, tham gia thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính nhưng không biết việc N4 thực hiện hành vi sai phạm, chiếm đoạt tài sản khi xử lý vụ việc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
[10] Vật chứng thu giữ, tạm giữ của vụ án Hội đồng xét xử xem xét và xử lý các vật chứng còn tạm giữ như sau:
- + Đối với bộ bài tây 51 lá thiếu 01 là 5 rô, đang niêm phong lưu trong hồ sơ vụ án xét cần thiết tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- + Đối với số tiền 4.250.000 đồng do N4 giao nộp, và số tiền 600.000 đồng C giao nộp đã giải quyết trong vụ án khác xét xử Đỗ Lê N4 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- + Đối với số tiền 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng), đây là tiền trích thu từ tiền huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định tịch thu tang vật, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[11] Xét, lời đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên.
[12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, nên buộc các bị cáo Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, t khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Giảng Văn L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Giảng Trọng N3 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thu C 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diệp T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Giảng Văn L, Giảng Trọng N3, Đỗ Thị Thu C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn T4, Đỗ Lê N4, anh Trần Bình D2, anh Đặng Bảo T5, anh Nguyễn Thanh D3, anh Tăng Thanh T6, anh Thái Văn C2, anh Cao Văn N5 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Văn Khỏe |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giảng Văn L, Đỗ Thị Thu C, Giảng Trọng N3, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Diệp T bị tuyên bố phạm tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS
