|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 52/2024/HS-ST Ngày: 14-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nguyễn Minh Tùng và bà Nguyễn Thị Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1974, tại thành phố S, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Số B, L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Mua bán phế liệu; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S (chết) và con bà: Nguyễn Thị T (chết); Chồng: Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1972; Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000; A, chị, em: Có 03 người, bị cáo là con út; Tiền sự: Có 01, ngày 09/5/2023 bị Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến nay chưa nộp phạt; Tiền án: Không; Nhân thân: (1) Ngày 14/5/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án sơ thẩm số 39/2013/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/9/2013, chấp hành xong án phí sơ thẩm ngày 15/7/2017 (đã xóa án tích), (2) Ngày 05/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án sơ thẩm số 34/2016/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2017, chấp hành xong án phí sơ thẩm ngày 08/11/2017 (đã xóa án tích); Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Chị Lê Thị Kim L1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số A, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- Anh Lữ Hòa Đ, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số A, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Số H, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Trần Thanh L2, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số H, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- Ông Đoàn Hoàng D, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Số D, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Ánh T1, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Số B, Khóm A, Phường C,
- Chị Nguyễn Thị Mỹ H1 (tên thường gọi: C), sinh năm 1987, nơi thường trú: Số
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 01/11/2023, Nguyễn Thị Ánh L và Nguyễn Thị Mỹ H1 gặp nhau. H1 đi về đến khu vực gần bãi rác thuộc ấp P, xã T, thành phố S thì H1 rủ L đi vào bên trong xem có nhà dân để tài sản sơ hở thì lấy trộm, L đồng ý và đứng ở đầu đường Q để canh đường, còn H1 thì đi vào bên trong đường hướng vào bãi rác để tìm nhà dân có tài sản để sơ hở nhằm chiếm đoạt.
H1 đi vào cơ sở sản xuất bọc nylon H2 do bà Lê Thị Kim L1 làm chủ, lén lúc lấy 01 cái mô tơ nhãn hiệu Hitachi công suất 10Hp đem ra đưa cho L1 để cái mô tơ lên baga trước xe. H1 điều khiển xe mô tô chở L1 đi về đường P thuộc khóm A, phường C, thành phố S. Khi đến đầu đường P thì H1 dừng xe lại bước xuống xe kêu L1 đi bán mô tơ xong rồi quay trở lại đầu đường sẽ gặp H1 để chia tiền, nghe vậy L1 điều khiển xe đi đến gặp và bán cái mô tơ vừa trộm được cho ông Lê Trần Thanh L2 (B) với giá 200.000 đồng. Sau khi bán xong L1 điều khiển xe đến đầu đường P thì gặp H1. Tại đây, L1 và H1 chia đều số tiền bán mô tơ mỗi người được 100.000 đồng, L1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 07 giờ ngày 24/11/2023, L1 và H1 gặp nhau tại quán nước của bà “Út Móm” rủ nhau đi mua phế liệu. L1 đi về nhà mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu đỏ đen, biển số 66L1-9252 của con tên Nguyễn Thị Ánh T1. L1 điều khiển xe trở lại quán nước rước H1 có kéo theo chiếc xe kéo tự chế bằng sắt để đi lòng vòng nội ô xã T, thành phố S. Khi đến khu vực vòng xoay C thì L1 dừng xe lại đậu xe ở đường Q rồi cả 02 cùng đi vào đường hẻm tìm tài sản của người dân lấy trộm. Khi đi đến Cơ sở sản xuất cọc ép bê tông “Hòa Đồng” do ông Lữ Hòa Đ làm chủ, địa chỉ: ấp P, xã T, thành phố S thì cả 02 cùng thấy bên hông cơ sở có 01 xe ô tô tải của ông Đ đang đậu. Cả 02 leo lên tìm trên thùng xe tải thì thấy có 02 cuộn dấy điện và 01 ổ cắm điện nên L1 và H1 cùng nhau khiêng 02 cuộn dây điện hiệu Cadivi 6.0 chiều dài khoảng 200 mét và 01 ổ cắm điện hiệu SoPoKa đã qua sử dụng xuống đất rồi đem ra để lên xe kéo. L1 điều khiển xe mô tô còn H1 thì ngồi phía sau kéo theo xe kéo chở dây điện và ổ điện trộm được đem về bãi đất trống gần B, thành phố S. L1, H1 cùng khiêng 02 cuộn dây điện và 01 ổ điện xuống đất rồi đốt hết vỏ dây bên ngoài để lấy dây đồng. H1 ở lại khu đất trống đợi, còn L1 đi một mình đem dây đồng đến gặp ông Lê Trần Thanh L2 bán được số tiền 150.000 đồng. L1 quay trở về khu đất trống ở B để gặp H1 chia đều số tiền này mỗi người được 75.000 đồng, L1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 26/11/2023, L1 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ, biển số 66L1-9252 đi trên đường QL80 để tìm tài sản của người dân sơ hở để trộm. Khi đi đến trước hộ số H, ấp P, xã T, thành phố S do bà Nguyễn Thị Đ1 làm chủ thì phát hiện phía trước nhà có để 01 giàn máy may cơ không có người trông giữ, L1 lén lút lấy 01 giàn máy may cơ hiệu Mitsubishi màu đen, khung sườn bằng sắt, mặt bàn bằng gỗ màu. L1 đem đến Cửa hàng “Quãng Sanh L3” ngụ phường B, thành phố S gặp và bán cho ông Đoàn Hoàng D được 400.000 đồng, số tiền này L1 đã tiêu xài hết.
Sau khi bị mất tài sản bà Lê Thị Kim L1, bà Nguyễn Thị Đ1 và ông Lữ Hòa Đ đến Công an xã T, thành phố S trình báo sự việc. Bút lục: số 03 đến 08.
Qua xác minh, Công an đã thu hồi được tang vật 01 giàn máy may; trích xuất dữ liệu Camera có ghi hình liên quan đến hành vi phạm tội của L1, H1 vào ngày 01/11/2023 và ngày 26/11/2023.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 12/KL-HĐĐGTS, ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố S, kết luận như sau:
- 01 (Một) cái mô tơ nhãn hiệu Hitachi, công suất 10Hp, đã qua sử dụng. Vào ngày 01/11/2023 có trị giá là: 2.267.000 đồng.
- 02 (Hai) cuộn dây điện hiệu Cadivi 6.0, lõi bằng đồng chiều dài 200 mét, đã qua sử dụng. Vào ngày 24/11/2023 trị giá là: 4.067.000 đồng.
- 01 (Một) ổ cắm điện hiệu SoPoKa, đã qua sử dụng. Vào ngày 24/11/2023 trị giá là: 80.000 đồng.
- 01 (Một) Máy may nhãn hiệu Mitsubishi màu đen, chân đạp bằng kim loại màu nâu gắn với bàn bằng gỗ, đã qua sử dụng. Vào ngày 26/11/2023 trị giá là: 867.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản định giá có trị giá là 7.281.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả: 01 máy may nhãn hiệu Mitsubishi cho bà Đ1; 01 xe mô tô biển số 66L1-9252 cho chị Nguyễn Thị Ánh T1 nhận lại xong. Bà Đ1 và chị L1 không yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSTPSĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ánh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ánh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh L mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận; xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: Vào các ngày 01/11/2023, 24/11/2023 và 26/11/2023, tại địa bàn ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ, bị cáo Nguyễn Thị Ánh L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt các tài sản gồm: mô tơ, dây điện, ổ cắm điện và máy may, có tổng trị giá là 7.281.000 đồng của Lê Thị Kim L1, Lữ Hòa Đ, Nguyễn Thị Đ1, nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
[3] Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự và đã từng nhiều lần bị xử phạt tù về hành vi “Trộm cắp tài sản”, nên bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Đáng lẽ ra sau khi chấp hành hình phạt tù xong, bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, ăn năn hối cải, cố gắng lao động để tự tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân, chăm lo cho gia đình. Thế nhưng, với tư tưởng xấu cùng bản tính tham lam, muốn có tiền để tiêu xài mà không cần bỏ ra nhiều công sức lao động, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Lê Thị Kim L1, Lữ Hòa Đ, Nguyễn Thị Đ1 để rồi một lần nữa đi vào con đường phạm tội. Với giá trị tài sản chiếm đoạt là 7.281.000 đồng thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...”
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích tư lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh. Thời điểm phạm tội là vào ban ngày, địa điểm bị cáo thực hiện tội phạm đều thuộc các tuyến đường có đông người qua lại, nếu chiếm đoạt tài sản sẽ dễ bị phát hiện và bị bắt, nhưng bị cáo vẫn cố tình đột nhập để chiếm đoạt, chứng tỏ bị cáo quá xem thường pháp luật, quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để một lần nữa giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo L1 nhiều lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, trong đó có 02 lần chiếm đoạt tài sản có trị giá trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
[8] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
- Quá trình điều tra bị hại Lữ Hòa Đ yêu cầu bị cáo L1 và chị Nguyễn Thị Mỹ H1 bồi thường trị giá tài sản bị thiệt hại là 4.147.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo L1 và chị H1 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông Lữ Hòa Đ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Đối với bị hại Lê Thị Kim L1 không có yêu cầu bị cáo L1 và chị H1 bồi thường tài sản bị thiệt hại nên không xem xét giải quyết.
[10] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe kéo tự chế bằng sắt, chiều dài 02m, có gắn 02 bánh xe là tài sản của bị cáo L1 đã sử dụng làm công cụ phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 02 USB lưu giữ hình ảnh liên quan hành vi phạm tội của bị cáo L1 và hình ảnh, ghi âm quá trình hỏi cung bị cáo L1 cần tiếp tục lưu hồ sơ để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.
[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và liên đới cùng chị Nguyễn Thị Mỹ H1 liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[12] Các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thị Mỹ H1 có hành vi cùng L lén lút lấy trộm 01 mô tơ của bà Lê Thị Kim L1 và 02 cuộn dây điện, 01 ổ cắm điện của ông Lữ Hòa Đ, nhưng do sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can H1 đã bỏ trốn Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 418A/QĐ-ĐTTH tách hành vi của H1 để tiếp tục truy bắt. Do đó, hành vi của H1 sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý trong một vụ án khác.
Đối với Lê Trần Thanh L2 có mua 01 mô tơ, 02 cuộn dây điện, 01 ổ cắm điện do L1 bán; Đoàn Hoàng D có mua 01 máy may do L1 bán, nhưng ông L2 và ông D không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L mức án 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 587, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L và chị Nguyễn Thị Mỹ H1 liên đới bồi thường cho ông Lữ Hòa Đ số tiền 4.147.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe kéo tự chế bằng sắt, chiều dài 02m, có gắn 02 bánh xe (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) là công cụ bị cáo L đã sử dụng để phạm tội.
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2024)
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án : 02 USB lưu giữ hình ảnh, file ghi âm quá trình hỏi cung bị cáo L và hình ảnh liên qua đến quá trình phạm tội của bị cáo L.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L và chị Nguyễn Thị Mỹ H1 liên đới nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Mỹ H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hoàng Minh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Hoàng M
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên phạt bị cáo 1 năm tù
