Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 52/2024/HS-ST

Ngày: 10-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Dương Sinh Huy.

2. Ông Cao Thành Phước.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mai Phụng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; Tại: huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Trú tại: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị T; chồng Lê Thanh P; con 02 người lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2003; anh, chị, em ruột 06 người lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất sinh năm 1986; Tiền án: không có; Tiền sự: 01 về “hành vi tổ chức đánh bạc” ngày 17/10/2023 bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 9.000.000đồng, đã nộp phạt xong. Nhân thân: Vào ngày 07/02/2017 có hành vi “đánh bạc” đã từng bị Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc theo bản án số 14/2017/HSST, ngày 29/6/2017 thuộc trường hợp được xoá án tích, ngày 09/5/2015 có hành vi đánh bạc bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính đã chấp hành xong thuộc trường hợp đã được xoá. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn N1, sinh năm 1975; Tại: huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Trú tại: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị S (chết); vợ Nguyễn Thị Hồng T2; con 02 người lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012; anh, chị, em ruột 07 người lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1977; Tiền án: không có; Tiền sự: 01 về “hành vi đánh bạc” ngày 17/10/2023 bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng, đã nộp phạt xong. Nhân thân: bị cáo chưa từng bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính, bị xử lý, kỷ luật đã được xoa. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

3. Ngô Thị Mỹ H1, sinh năm 1985; Tại: huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Trú tại: ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn L và bà Đặng Thị T3; chồng Bùi Văn T4; con 01 người sinh năm 2004; anh, chị, em ruột 04 người lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án: không có; Tiền sự: 01 về “hành vi đánh bạc” ngày 17/10/2023 bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng, đã nộp phạt xong. Nhân thân: Vào ngày 13/12/2007 bị cáo H1 đã từng bị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xử phạt 03 tháng tù về tội đánh bạc thuộc trường hợp được xoá án tích. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Phạm Kim H2, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

2. Nguyễn Thị Ngọc S1, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

3. Hồ Ngọc M, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

4. Nguyễn Vũ L1, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

Địa chỉ nơi sinh sống hiện nay: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

5. Nguyễn Văn M1, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18/12/2023, tại nhà của bà Phạm Kim H2 thuộc địa bàn huyện M, tỉnh Vĩnh Long có tổ chức tiệc sinh nhật cho cháu nội, có các đối tượng gồm: Nguyễn Thị N; Nguyễn Văn N1; Ngô Thị Mỹ H1 cùng các đối tượng Nguyễn Vũ L1; Nguyễn Văn M1; Nguyễn Thị Ngọc S1, Hồ Ngọc M. Sau khi dự tiệc xong thì L1 rủ các đối tượng tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, thì tất cả đồng đồng ý. Bà H2 chuẩn bị 04 bộ bài tây, loại 52 lá, 01 tấm chăn màu nâu làm chiếu bạc trãi ở khu vực nhà sau và quy định các đối tượng tham gia sẽ tự bỏ tiền xâu 50.000 đồng vào cái lon, ai thắng sẽ cho tiền thêm. Hình thức đánh bạc là đánh bài binh Ấn Độ 06 lá, 01 tụ làm cái và 05 tụ còn lại thắng thua với tụ cái, mỗi ván đặt từ 50.000đồng đến 100.000đồng, tham gia được khoảng 15 ván lúc này hơn 23 giờ cùng ngày thì Công an huyện M đến tiến hành kiểm tra và lập biên bản sự việc đánh bài ăn thua bằng tiền đối với các đối tượng trên.

Qua làm việc với Nguyễn Thị N; Nguyễn Văn N1, Ngô Thị Mỹ H1, Nguyễn Vũ L1, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị Ngọc S1 và Hồ Ngọc M đã thừa nhận hành vi đánh bạc (đánh bài) ăn thua bằng tiền của mình, tra cứu thông tin thì Nguyễn Thị N; Ngô Thị Mỹ H1 và Nguyễn Văn L2 có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xoá nên ngày 19/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị N, Ngô Thị Mỹ H1 và Nguyễn Văn N1, về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tang vật và đồ vật hiện tại còn thu giữ: Số tiền 4.300.000 đồng có liên quan đến đánh bạc; số tiền 22.900.000đồng của bị cáo Nguyễn Thị N không liên quan đến việc phạm tội đánh bạc và 36 lá bài tây đã qua sử dụng, 03 bộ bài tây chưa qua sử dụng và 01 tấm chăn màu nâu sử dụng làm chiếu bạc, Công an huyện M chứng minh đây là tài sản của bà H2 là công cụ dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Thị N, Ngô Thị Mỹ H1 và Nguyễn Văn N1 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo Nguyễn Văn N1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Về trách nhiệm nộp lại tiền, tang vật dùng để phạm tội:

Bà Phạm Kim H2 đã nộp số tiền 200.000 đồng, H2 đã nộp lại xong.

Đối với các đối tượng Nguyễn Vũ L1; Nguyễn Văn M1; Nguyễn Thị Ngọc S1, Hồ Ngọc M và Phạm Kim H2 hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Công an huyện M đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Tại Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS.MT, ngày 06 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm trong bản luận tội, đề nghị HĐXX tuyên xử:

Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung từ 15.000.000đồng đến 20.000.000đồng, miễn khấu trừ thu nhập vì bị cáo không có việc làm ổn định.

Áp dụng: khoản 1, 3 Điều 321, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hìnhnăm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Ngô Thị Mỹ H1 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung từ 15.000.000đồng đến 20.000.000đồng, miễn khấu trừ thu nhập vì bị cáo không có việc làm ổn định.

Áp dụng: khoản 1, Điều 321, các điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hìnhnăm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng, miễn khấu trừ thu nhập vì bị cáo không có việc làm ổn định.

Vật chứng và đồ vật có liên quan: Áp dụng Điều 46,47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy: 36 lá bài tây đã qua sử dụng, 03 bộ bài tây chưa qua sử dụng và 01 tấm chăn màu nâu sử dụng làm chiếu bạc

Tịch thu sung quỹ số tiền 4.300.000đồng dùng để đánh bạc và có liên quan đến việc đánh bạc.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 22.900.000đồng của bị cáo Nguyễn Thị N để đảm bảo thi hành án.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Lời nói sau cùng các bị cáo không có ý kiến đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[ 1 ] Về tố tụng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử là đúng theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa xét xử vắng mặt là phù hợp Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, chứng minh được các hành vi, quyết định tố tụng đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[ 2 ] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa có cơ sở khẳng định: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Ngô Thị Mỹ H1, Nguyễn Văn N1 đã có một tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xoá, ngày 18/12/2023 tiếp tục tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền cùng các đối tượng khác, tổng số tiền dùng để đánh bạc trong vụ án này là 4.100.000đồng (bốn triệu một trăm ngàn đồng). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở và đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo H1, N1, N đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình đây là tình giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo Nguyễn Văn N1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có ông N2 là liệt sĩ nên đây xem là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; đối với bị cáo H1 có ông N3 ruột là thương binh hạng 1, khi bị phát hiện hành vi đánh bạc bị cáo H1 nhảy từ tầng 1 xuống gãy chân, được đưa đi điều trị sau đó đến trình diện tại cơ quan công an khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo N có bà N3 và cậu ruột là liệt sĩ nên HĐXX xem xét cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo H1, bị cáo N.

Bị cáo H1, bị cáo N có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi đánh bạc nên cần xử phạt nghiêm mang tính răng đe, tuy nhiên xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét thấy mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra không lớn, hành vi đánh bạc của các bị cáo không có tổ chức, cấu kết chặt chẽ mà do tự phát sau khi dự tiệc sinh nhật cháu nội của bà H2, phần lớn các bị cáo có mối quan hệ thân thiết đến từ nhiều nơi khác nhau mục đích chính dự tiệc sinh nhật, không mang tính chất thường xuyên tụ tập nên sau khi cân nhắc HĐXX không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, chỉ áp dụng hình phạt thử thách và giao cho cơ quan có thẩm quyền giám sát giáo dục trong một khoảng thời gian bên cạnh đó phạt bổ sung các bị cáo một số tiền tương xứng như đề nghị và phân tích của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long là đủ để răng đe giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt. Miễn khấu trừ thu nhập vì các bị cáo không có việc làm ổn định.

[ 3 ] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 46, 47 Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thuhủy: 36 lá bài tây đã qua sử dụng, 03 bộ bài tây chưa qua sử dụng và 01 tấm chăn màu nâu sử dụng làm chiếu bạc

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 4.300.000đồng dùng để đánh bạc và có liên quan đến việc đánh bạc.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 22.900.000đồng của bị cáo Nguyễn Thị N để đảm bảo thi hành án.

[ 4 ] Xét, đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận.

[ 5 ] Về án phí: Các bị cáo nộp theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N1 phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự C bị cáo chấp hành bản án nhận được quyết định thi hành án.

Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn N1 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng), miễn khấu trừ thu nhập vì bị cáo không có việc làm ổn định.

2. Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Mỹ H1 phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, 36 Bộ luật Hìnhsự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô Thị Mỹ H1 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự C bị cáo chấp hành bản án nhận được quyết định thi hành án.

Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã M trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Ngô Thị Mỹ H1 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng), miễn khấu trừ thu nhập vì bị cáo không có việc làm ổn định.

3. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, 36 Bộ luật Hìnhsự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự C bị cáo chấp hành bản án nhận được quyết định thi hành án.

Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã N trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị N 20.000.000đồng(hai mươi triệu đồng), miễn khấu trừ thu nhập vì bị cáo không có việc làm ổn định.

4. Về xử lý vật chứng

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tốhình sự năm 2015, Điều 46, 47 Luật Hìnhsự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thuhủy: 36 lá bài tây đã qua sử dụng, 03 bộ bài tây chưa qua sử dụng và 01 tấm chăn màu nâu sử dụng làm chiếu bạc

Tịch thu sung quỹ số tiền 4.300.000đồng dùng để đánh bạc và có liên quan đến việc đánh bạc.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 22.900.000đồng của bị cáo Nguyễn Thị N để đảm bảo thi hành án.

Tiền và đồ vật theo biên bản giao nhận vật chứng tại cơ quan thi hành án huyện M ngày 08/5/2024 và theo lệnh thanh toán ngày 08/5/2024 tại Ngân hàng N4 chi nhánh huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

5. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Buộc các bị cáo Nguyễn Thị N, Ngô Thị Mỹ H1, Nguyễn Văn N1 mỗi bị cáo nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Công an tỉnh-Phòng hồ sơ;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú, ;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Công Hảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về hình sự

  • Số bản án: 52/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc của bị cáo N, bị cáo N1 và bị cáo H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger