Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-PT

Ngày: 13/06/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Nhậm.

Các Thẩm phán: Ông Lê Hùng Cường.

Bà Huỳnh Thị Phượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trần Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Hồ Trọng N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 07/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

- Bị cáo kháng cáo:

Hồ Trọng N, sinh năm 1993 tại Long An; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và C nay: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê (Lái xe); Trình độ học vấn: 10/12; Cha: Hồ Thanh S; Mẹ: Nguyễn Thị T; Vợ: Trần Thị Phượng H (đã ly hôn); có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: 01, ngày 07/12/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 20/4/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10/10/2023 bị Trưởng Công an huyện V xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/9/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Những người không kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:

- Người bị hại:

  1. Chị Lê Cẩm N1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Anh Mai Văn T1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
  3. Anh Nguyễn Tấn L, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Long An.
  4. Anh Võ Duy K, sinh năm 2003. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
  5. Anh Trần Văn L1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
  6. Chị Trần Thúy L2, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

- Người làm chứng:

  1. Ông Phan Hữu Í, sinh năm 1952. Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An.
  2. Anh Trần Đắc T2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Long An.
  3. Chị Hồ Thị Ngọc H1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 11/9/2023 đến ngày 28/9/2023, Hồ Trọng N đã thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản, cụ thể:

Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 28/9/2023 N đi bộ đến nhà trọ M trên đường 3 tháng 2 thuộc khu phố M, thị trấn V để tìm tài sản lấy trộm. N đến dãy nhà trọ gồm có 06 phòng, quan sát thấy phòng trọ số 5 không khóa cửa nên lén lút vào lấy trộm 01 áo sơ mi sọc xám ngắn tay không nhãn hiệu; 01 áo sơ mi sọc nâu dài tay hiệu AFFLICTION; 01 quần Jean dài, màu đen hiệu TO-TODAY, size:28;cục sạc điện thoại di động màu trắng; 01 điện thoại di động Nokiamàu đen; 01 chai dầu thơm (nước hoa), thân màu trắng, nắp màu đen hiệu Bleu De ChanelTất cả các tài sản trên là của anh Trần Văn L1, sinh năm 2000, HKTT tại: Ấp T, xã T, huyện V. Sau đó N mặc 02 áo sơ mi và quần J đã trộm được vào người rồi đi đến phòng số 01 cùng dãy nhà trọ, thấy cửa đóng, có tiếng nói trong phòng và có 01 xe mô tô màu đỏ-đen nhãn hiệu Yamaha,xe Sirius, biển số 66H1-138.50 của chị Lệ Cẩm N2 đang để trước cửa, nên N nhặt 01 sợi dây và 01 đoạn dây kẽm cột khóa cửa bên ngoài lại. N dắt xe mô tô đi được khoảng 10m thì chị N2 và anh Trần Đắc T2 phát hiện tribáo cho chủ nhà trọ là ông Phan Hữu Í biết. N bỏ chạy và trốn vào bụi cây cạnh chuồng heo phía sau dãy trọ được khoảng 10 phút thì bị người dân và Công an bắt giữ.

Quá trình điều tra, còn chứng minh được N trộm cắp tài sản khác, cụ thể:

Khoảng 13 giờ ngày 11/9/2023 N đến thuê phòng số 4 nhà nghỉ T4 ngụ khu phố C, thị trấn V. N quan sát thấy có xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave, màu xanh-đen-bạc, biển số 68M1-37290 của anh Mai Văn T1 đậu ở nhà xe nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc 21 giờ 40 phút cùng ngày, N sử dụng 01 tua vít tháo mặt nạ xe mô tô, dùng hộp quẹt đốt dây mát của xe mô tô nổ máy chạy đến TP . Hồ Chí Minh bán cho một người đàn ông lạ mặt với số tiền 3.500.000đ và tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 16/9/2023 N đi bộ trên đường T. Khi đi ngang qua nhà anh Nguyễn Tấn L thì thấy có nhiều xe mô tô tại hành lang nhà. Cạnh nhà anh L là nền đất trống không có hàng rào nên N đi qua đất trống vào hành lang nhà anh L tìm tài sản lấy trộm. N thấy 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future Neođen biển số Campuchia có sẵn chìa khóa trên xe, không ai trông coi nên dẫn xe đi về hướng sau căn nhà rồi vòng qua đất trống ra đường T. N điều khiển xe đi đến gần Nghĩa trang L3 thì dừng lại, mở cốp thấy có cái bóp (ví) chứa 3.000.000đ và nhiều giấy tờ tùy thân khác, nên lấy hết số tiền có trong bóp rồi vứt giấy tờ trước cửa hàng rào nhà anh L, điều khiển xe mô tô sang Campuchia bán cho một người đàn ông lạ mặt với số tiền 3.500.000đ rồi tiêu xài hết.

Khoảng 02 giờ ngày 17/9/2023 N đi bộ trên đường T. Khi đến trụ sở xã đội xã T, thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu xanh- trắng, biển số 48B1-274.32 của anh Võ Duy K cắm sẵn chìa khóa trên xe không ai trông coi nên lén lút lấy trộm xe mô tô. Sau đó dùng chìa khóa 02 đầu 10-14 mà N đem theo tháo biển số để lên bagarồi chạy đến nhà bà Trần Thị Lệ D sinh 1973 (mẹ vợ), HKTT: Ấp B, xã T, thị xã K chơi và thăm con. Đến khoảng 02 giờ ngày 18/9/2023 N điều khiển xe mô tô trên đến để gần trụ sở Công an xã T (cách khoảng 50m). Anh K nhìn thấy nên đến lấy xe về.

Ngoài ra, N còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: Vào khoảng năm 2020 đến giữa năm 2021, Hồ Trọng N có thuê phòng tại nhà trọ Lạc ViênHoàng tại địa chỉ 9 Tỉnh lộ 10, Khu phố H, phường T, quận B, TP . Hồ Chí Minh. Hiện tại, em ruột N tên Hồ Thị Ngọc H1 đang thuê phòng 407 của nhà trọ này. Khoảng 17 giờ ngày 20/9/2023, N đón xe đi đến nhà trọ L4 mục đích tìm tài sản để lấy trộm. N đi lên phòng của H1 nhưng H1 không có nhà. N đi xuống nhà xe, quan sát không thấy người trông nên dùng 01 đầu vít dẹp chữ (T) lén lút bẻ ổ khóa xe mô tô Wave Anpha màu trắng, biển kiểm soát 69B1-759.73 của chị Trần Thúy L2 (là khách thuê trọ) và nổ máy chạy sang Campuchia bán cho 01 người không rõ danh tính với giá 11.000.000đ rồi tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với N và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V nhập vụ án xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 106/KL-HĐĐG ngày 28/9/2023 của Hội đồng Địnhgiá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V đã kết luận giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển số 66H1-138.50, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 28/9/2023 có giá là 7.667.000 đồng;

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 108/KL-HĐĐG ngày 28/9/2023 của Hội đồng Địnhtài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V đã kết luận giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha,Exitermàu xanh trắng, biển số 48B1-274.32, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 17/9/2023 có giá là 10.167.000 đồng;

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 348/KL-HDĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng Địnhtài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B đã kết luận giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 69B1-75973, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 20/9/2023 có giá trị là 15.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 153/KL-HĐĐG ngày 11/12/2023 của Hội đồng Địnhtài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V đã kết luận giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh đen bạc, biển số 68M1-37290, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 12/9/2023 có giá trị là 11.700.000 đồng; Giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future Neomàu đen đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 16/9/2023 có giá trị là 5.700.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 151/KL-HĐĐG ngày 11/12/2023 của Hội đồng Địnhtài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V đã kết luận giá của 01 áo sơ mi sọc xám ngắn tay không nhãn hiệu, đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 28/9/2023 có giá 57.000đ; 01 áo sơ mi sọc nâu dài tay hiệu AFFLICTION đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 28/9/2023 có giá 63.000đ; 01 quần Jean dài, màu đen hiệu TO-TODAY, size 28 đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 28/9/2023 có giá 93.000đ; 01 cục sạc điện thoại di động màu trắng đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 28/9/2023 có giá 47.000đ; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen số seri 351770701771183 đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 28/9/2023 có giá 83.000đ; 01 chai dầu thơm (nước hoa), thân màu trắng, nắp màu đen hiệu Bleu Deparisthời điểm ngày 28/9/2023 có giá là 90.000 đồng. Tổng cộng giá trị các tài sản tại Bản kết luận có giá 433.000đ.

Tại Bản án số 06 ngày 07/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An đã tuyên xử.

Tuyên bố bị cáo Hồ Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Trọng N 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 28/9/2023.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (07/3/2024) để bảo đảm thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.

Ngày 21/3/2024, bị cáo Hồ Trọng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xử, bị cáo xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm có nội dung:

Hành vi của bị cáo Hồ Trọng N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội

Ngày 21/3/2024 bị cáo Hồ Trọng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Qua nghiên cứu những chứng cứ có tại hồ sơ nhận thấy cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp; bị cáo N kháng cáo không bổ sung tình tiết giảm nhẹ nào mới; bị cáo phạm tội với 02 tình tiết tăng nặng là tái phạm, và phạm tội 02 lần trở lên; mức án 04 năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; thể hiện được tính giáo dục và nghiêm minh của pháp luật nên kháng cáo của bị cáo Hồ Trọng N không có căn cứ xem xét chấp nhận.

Từ những phân tích trên.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Trọng N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HSST ngày 07/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo kháng cáo bản án trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Bản án sơ thẩm và biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28/9/2023, các kết luận định giá, lời khai của những người bị hại, người làm chứng, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: bị cáo Hồ Trọng Nghĩa 1 đối tượng có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã nhiều lần trộm cắp tài sản có tổng giá trị 53.667.000 đồng, gồm: ngày 11/9/2023, tại nhà nghỉ T4 thuộc KhuChiến Thắng, thị trấn V, bị cáo đã có hành vịcủa anh Mai Văn T1 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, biển số 68M1-372.90 có giá trị 11.700.000 đồng. Ngày 16/9/2023, tại Ấp X, bị cáo đã có hành vi trộm của anh Nguyễn Tấn L 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future Neogiá 5.700.000đ và số tiền 3.000.000đ trong ví để trong cốp xe. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã trộm cắp của anh L là 8.700.000đ. Ngày 17/9/2023 tại trụ sở xã đội Thái Bình T3, bị cáo đã có hành vi trộm của anh Võ Duy K 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exiterxanh trắng, biển số 48B1-274.32 có giá trị 10.167.000 đồng. Ngày 20/9/2023 tại nhà trọ L5 ở địa chỉ 915/1 tỉnh lộ 10, khu phố H, phường T, QuậnTân, TP ., bị cáo đã có hành vi trộm 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha màu trắng, biển số 69B1-759.73 có giá trị 15.000.000 đồng của chị Trần Thúy L2. Ngày 28/9/2023, tại nhà trọ M thuộc khu phố M, thị trấn V, bị cáo đã có hành bị trộm cắp đồ dùng cá nhân gồm: Quần jeans,sơ mi, điện thoại, cụcđiện thoại, nước hoa của anh Trần Văn L1 có giá trị 433.000 đồng và lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển số 66H1-138.50 của chị Lê Cẩm N3 giá trị 7.667.000 đồng.

[3] Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, giá trị tài sản bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp là 53.667.000 đồng. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Án sơ thẩm đã áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo: Khi xét xử án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo có như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, sau khi bị cáo trộm cắp được chiếc xe biển số 48B1-274.32 bị cáo đã đem lại trụ sở Công an xã T mục đích để anh Võ Duy K thấy xe lấy về theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cũng như tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp nhiều lần, trong đó các lần trộm cắp đều đủ định lượng trên 2.000.000 đồng và lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Để xử phạt bị cáo 4 năm tù là có căn cứ phù hợp theo quy định của luật hìnhvà các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ bị cáo có khi xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, thể hiện hồ sơ điều tra vụ án cho thấy các lần bị cáo có hành vi phạm tội trước khi bị bắt quả tang bị cáo đã tự khai để Cơ quan điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật là tình tiết tự thú theo quy định tại điểm r, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng án sơ thẩm không áp dụng đối với bị cáo là thiếu sót làm bất lợi cho bị cáo khi lượng hình. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ áp dụng áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ này, chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ 1 phần hình phạt đối với bị cáo là có là phù hợp theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ 1 phần hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Trọng N. Sửa hình phạt bản án sơ thẩm số: Tại Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 07/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An
  2. Tuyên bố bị cáo Hồ Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Trọng N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 28/9/2023.

Căn cứ Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/6/2024) để bảo đảm thi hành án.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Hồ Trọng N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - TAND huyện;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Trần Văn Nhậm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 52/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Trọng N- Trộm cắp TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger