|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 7 - 2024
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Lam.
- Bà Bùi Thị Út.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Nhật H, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 7, phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố 7, phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T trình bày:
Bà và Ông Nguyễn Nhật H tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau, hai bên gia đình không tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2022.
Trong quá trình chung sống bà và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông H thường xuyên nhậu nhẹt, kiếm chuyện vô cớ để chửi bà. Bà và ông H thường xuyên cãi nhau do bà biết được ông H có quan hệ tình cảm với những người phụ nữ khác. ông H còn dùng nón bảo hiểm đánh và dùng tay bóp cổ bà. Ngoài ra, do gia đình nhà chồng không chấp nhận bà là con dâu trong nhà nên có nhiều lời lẽ, hành động xúc phạm bà. Bà và ông H từ tháng 12/2023 cho đến nay không còn sống chung cùng nhau, hai vợ chồng không ai đặt vấn đề hàn gắn quay lại. Do thời gian mâu thuẫn kéo dài và không còn chung sống cùng nhau nên tình cảm không còn, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 26/6/2024, bị đơn Ông Nguyễn Nhật H trình bày: Ông và bà Nguyễn Thanh T chung sống với nhau từ năm 2019, gia đình hai bên không tổ chức đám cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm vào năm 2022. Sau khi kết hôn vợ chồng ông không hạnh phúc do tính tình không hợp, thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã. Từ đầu năm 2024 cho đến nay vợ chồng không còn sống chung cùng nhau, không ai đặt vấn đề hàn gắn quay lại. Nay tình cảm không còn nên ông đồng ý ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông và bà T không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán, Thư ký, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn Ông Nguyễn Nhật H. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ở phường T, thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Ngày 18/7/2024, ngày 20/7/2024, bị đơn và nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về tranh chấp hôn nhân: bà T và ông H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 81 ngày 06/12/2022 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà T trình bày: Quá trình chung sống, bà và ông H không có hạnh phúc thường xuyên cãi nhau do mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, khác nhau về quan điểm sống, ông H nhậu nhẹt, kiếm chuyện vô cớ để chửi bà. Từ tháng 12/2023 cho đến nay bà và ông H không còn sống chung, hai vợ chồng không ai đặt vấn đề hàn gắn quay lại. ông H biết bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông H đồng ý ly hôn nhưng vắng mặt.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[2.2] Về con chung: Quá trình giải vụ án bà T và ông H đều xác nhận là không có con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.3] Tài sản chung và nợ chung: bà T và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh T được ly hôn với Ông Nguyễn Nhật H.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000195 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Diệu |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về ly hôn
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
