Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Liêm và Bà Cao Thị Diệu Hiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 125/TB-TA ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1966.
  2. Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1965.

Cùng địa chỉ: Số D rạch C, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Huỳnh Thanh T1 quen biết, tìm nhau khoảng 01 năm thì tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1982, không có tổ chức đám cưới và cũng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau đó, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Đồng thời, ông T1 thường xuyên có hành vi chửi mắng, đánh đập gây tổn thương cho bà T; ngoài ra, ông T1 cũng không có trách nhiệm, không quan tâm, chăm lo cho gia đình. Từ năm 2018 cho đến nay, bà T và ông T1 đã sống ly thân, không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau.

Nay, bà T nhận thấy không còn tình cảm nên không thể hàn gắn, đoàn tụ tiếp tục chung sống vợ chồng với ông T1.

Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn ông Huỳnh Thanh T1.

- Về con chung:

Bà T và ông T1 chung sống vợ chồng có 03 người con chung tên Huỳnh Hoàng L, sinh năm 1984, Huỳnh Thị Trúc N, sinh năm 1988 và Huỳnh Hoàng T2, sinh năm 1992; các con đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, bà T không còn yêu cầu gì khác.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn - ông Huỳnh Thanh T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:

Về thời gian chung sống vợ chồng, không có đăng ký kết hôn, ông T1 thống nhất với lời trình bày của bà T.

Vào năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bà T thường hay kiếm chuyện cự cãi làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Bản thân ông T1 không làm gì sai trái với bà T. Sau đó, bà T tự bỏ ra ngoài sinh sống cho đến nay.

Ông T1 không đồng ý ly hôn bà T3. Bởi vì, ông T1 đã lớn tuổi, có bệnh trong người; các con đã trưởng thành, lập gia đình riêng nên ông không muốn ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của các con và gia đình mình.

- Về con chung: Ông T1 thống nhất theo lời trình bày của bà T.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông T1 không có yêu cầu gì.

Ngoài ra, ông T1 không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu, bị đơn giữ nguyên ý kiến; không ai giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Huỳnh Thanh T1; về con chung: các con đã thành niên nên không xem xét, giải quyết; về tài sản chung, nợ chung không xem xét, giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), giải quyết theo quy định của pháp luật (có bài phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn và bị đơn có nơi cư trú tại số D rạch C, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ; xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T về việc yêu cầu ly hôn ông Huỳnh Thanh T1, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Huỳnh Thanh T1 tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1982 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số: 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội quy định: “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 1 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000".

Đồng thời, tại Mục 1 Thông tư liên tịch số: 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03 tháng 01 năm 2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35 quy định như sau:

“Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.”

Đối chiếu với quy định đã viện dẫn, trường hợp của bà T và ông T1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1982 (trước ngày 03/01/1987), mặc dù cả hai chưa đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng (hôn nhân thực tế).

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Theo bà T, từ năm 2000, vợ chồng đã bất đồng quan điểm sống; ông T1 thường xuyên có hành vi chửi mắng, đánh đập gây tổn thương cho bà T và ông cũng không có trách nhiệm, không quan tâm, chăm lo cho gia đình nên từ năm 2018 cho đến nay, hai người đã sống ly thân, không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau. Vào Tháng 12/2023, bà T đã nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn một lần nhưng đã rút lại đơn khởi kiện để vợ chồng hòa giải, cho cơ hội để ông T sửa đổi bản tính nhưng ông vẫn không sửa đổi. Về phía ông T1 cho rằng, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bà T thường hay kiếm chuyện cự cãi làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình chứ bản thân ông không làm gì sai trái nhưng bà T đã tự ý bỏ ra ngoài sinh sống. Do đó, ông không đồng ý ly hôn vì không muốn ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của các con và gia đình mình.

Tại Khoản 1 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.”

Tại Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án xem xét, giải quyết việc ly hôn.”

Theo đó, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù, ông T1 không đồng ý ly hôn nhưng bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng nên không thể hàn gắn, đoàn tụ, tiếp tục chung sống với nhau. Thực tế, bà T và ông T1 cũng không còn sống chung; cả hai không có sự quan tâm, chia sẻ gì đối với nhau; Tòa án đã hòa giải nhưng không thành. Do đó, việc bà T yêu cầu ly hôn ông T1 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về nuôi con chung: Bà T và ông T1 chung sống vợ chồng có 03 người con chung tên Huỳnh Hoàng L, sinh năm 1984, Huỳnh Thị Trúc N, sinh năm 1988 và Huỳnh Hoàng T2, sinh năm 1992; các con đã thành niên, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3]. Về chia tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[3]. Qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về nội dung vụ án, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim T chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 89 và Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T.
    • - Về quan hệ hôn nhân:
    • Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Huỳnh Thanh T1.
    • - Về nuôi con chung: Con đã thành niên nên không xem xét, giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim T chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ, bà T đã nộp theo biên lai số 0004151 ngày 03/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Sa Đéc;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Chi cục THA dân sự Tp. Sa Đéc;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger