|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST Ngày 25-7-2024 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Chiên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm, bà Bùi Thị Hảo
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 89/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hoàng Vân A - sinh năm 1995
Địa chỉ: Khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thế K - sinh năm 1989
Địa chỉ: Khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Hiện anh K đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn N - sinh năm 1963, bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng Vân A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thế K đăng ký kết hôn ngày 27/3/2013 tại UBND xã T (nay là phường M), thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn hai bên tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 4/2019 thì anh K đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thời gian đầu anh K thường xuyên liên lạc với chị nhưng sau đó không liên lạc dẫn đến phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Chị có trao đổi với bố mẹ đẻ của anh K là ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H về mâu thuẫn vợ chồng, mặc dù bố mẹ đẻ của anh K khuyên giải chị đoàn tụ để nuôi dạy con cái và xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng chị xác định tình cảm với anh K không còn. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thế K.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thế K có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Kim Y - sinh ngày 11/01/2014 và Nguyễn Thảo M - sinh ngày 06/10/2015. Hiện nay hai con chung đang ở cùng với chị và bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Thế K tại khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Do chị đợt tới đi làm xa nhà nên không thể chăm sóc hai con được, đồng thời hai con đang ở và học tập ổn định và nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội, chị đề nghị giao hai con chung cho anh Nguyễn Thế K chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian anh Nguyễn Thế K ở nước ngoài, bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Thế K nhận trông nom, chăm sóc và giáo dục hai con chung thì chị nhất trí.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000 đồng/01 con/01 tháng, tổng số tiền cấp dưỡng nuôi hai con là 5.000.000 đồng/01 tháng kể từ tháng 8/2024 đến khi con chung thành niên và có khả năng tự nuôi được mình. Phương thức cấp dưỡng là theo hằng tháng.
Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị và anh K không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không thể tham gia tố tụng tại phiên tòa được, chị đề nghị được xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên quan điểm, không thay đổi, bổ sung gì.
Bị đơn anh Nguyễn Thế K đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc và vẫn vắng mặt phiên tòa lần hai. Tòa án tiến hành làm việc với ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H là bố mẹ đẻ của anh K thì bố mẹ đẻ của anh K cung cấp là anh K nhất trí chị Nguyễn Hoàng Vân A xin ly hôn, do tính chất công việc nên anh K không đến Tòa án giải quyết, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H trình bày như sau:
Ông bà là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Thế K. Sau khi chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K kết hôn thì chung với ông bà ở khu T, phường M, thành phố V. Năm 2019 anh Nguyễn Thế K đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau khi đi được một thời gian thì vợ chồng chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K phát sinh mâu thuẫn nên chị Nguyễn Hoàng Vân A đã làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Thế K. Trước khi chị Nguyễn Hoàng Vân A đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì chị Nguyễn Hoàng Vân A có nói chuyện với ông bà, với tư cách là bố mẹ chồng nên ông bà đã khuyên giải chị Nguyễn Hoàng Vân A đoàn tụ để nuôi dạy con cái và xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng chị Nguyễn Hoàng Vân A vẫn cương quyết ly hôn. Hiện nay anh Nguyễn Thế K đang ở nước ngoài, không nói cho ông bà biết địa chỉ và công việc như thế nào. Khi Tòa án giải quyết việc chị Nguyễn Hoàng Vân A xin ly hôn, ông bà có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án để tống đạt cho anh Nguyễn Thế K, sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thì ông bà đã thông báo cho anh Nguyễn Thế K biết thời gian và địa điểm đến Tòa án giải quyết việc chị Nguyễn Hoàng Vân A xin ly hôn thì anh Nguyễn Thế K nói nhất trí ly hôn nhưng do tính chất công việc nên không đến Tòa án làm việc được, anh Nguyễn Thế K đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Nay chị Nguyễn Hoàng Vân A vẫn cương quyết xin ly hôn anh Nguyễn Thế K, quan điểm của ông bà là đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của hai bên.
Hiện nay hai con chung của vợ chồng chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K đang ở với ông bà, nếu vợ chồng ly hôn và chị Nguyễn Hoàng Vân A phải đi làm xa nhà, không có nguyện vọng nuôi con thì ông bà đề nghị Tòa án giao hai con cho anh Nguyễn Thế K chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục, hiện anh Nguyễn Thế K đang ở nước ngoài nên ông bà nhận nuôi hai con chung của vợ chồng chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K trong thời gian anh Nguyễn Thế K ở nước ngoài. Chị Nguyễn Hoàng Vân A nhận cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng/01 con/01 tháng thì ông bà nhất trí.
Do sức khỏe và tính chất công việc nên ông bà không tham gia tố tụng tại phiên tòa được, đề nghị xét xử vắng mặt ông bà.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, còn bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật.
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử cho chị Nguyễn Hoàng Vân A được ly hôn anh Nguyễn Thế K.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Kim Y - sinh ngày 11/01/2014 và Nguyễn Thảo M - sinh ngày 06/10/2015 cho anh Nguyễn Thế K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian anh K ở nước ngoài, tạm giao cháu Nguyễn Hoàng Kim Y và cháu Nguyễn Thảo M cho ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi anh K về nước. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Hoàng Vân A về việc cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng/01cháu/01tháng cho đến khi con chung thành niên.
Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Hoàng Vân A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Hoàng Vân A có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Thế K. Theo công văn số 10048/QLXNC-P3 ngày 16/5/2024 của Cục Q - Bộ C, anh Nguyễn Thế K đã xuất cảnh ngày 07/4/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Trước khi xuất cảnh, anh K đăng ký hộ khẩu tại khu T, phường M, thành phố V tỉnh Phú Thọ. Hiện nay anh K đang ở nước ngoài nhưng không cung cấp địa chỉ cụ thể. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Nguyễn Thế K không đến Tòa án làm việc và vẫn vắng mặt phiên tòa lần hai. Chị Nguyễn Hoàng Vân A, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 208, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K đăng ký kết hôn ngày 27/3/2013 tại UBND xã T (nay là phường M), thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn hai bên tự nguyện, không bị ép buộc nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K là hợp pháp. Chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do mỗi người làm một nơi, không chung sống gần nhau nên không có thời gian dành tình cảm cho nhau và hằng ngày không giúp đỡ được công việc gia đình dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn của vợ chồng có được gia đình khuyên giải nhưng đời sống chung vợ chồng không cải thiện được. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị Nguyễn Hoàng Vân A xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên xin ly hôn, còn anh Nguyễn Thế K mặc dù không đến Tòa án làm việc nhưng khi biết Tòa án giải quyết việc chị Nguyễn Hoàng Vân A xin ly hôn thì đã nói với gia đình là anh nhất trí chị Nguyễn Hoàng Vân A xin ly hôn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K là mâu thuẫn rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Hoàng Vân A xin ly hôn anh Nguyễn Thế K là có căn cứ được chấp nhận. Vì vậy, xử cho chị Nguyễn Hoàng Vân A được ly hôn anh Nguyễn Thế K.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Hoàng Vân A và anh Nguyễn Thế K có hai con chung là Nguyễn Hoàng Kim Y - sinh ngày 11/01/2014 và Nguyễn Thảo M - sinh ngày 06/10/2015. Hiện nay hai con chung đang ở cùng với bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Thế K là ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Hoàng Vân A đề nghị giao hai con chung cho anh Nguyễn Thế K nuôi dưỡng, đồng thời ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H cũng đề nghị giao cháu Y và cháu M cho anh Nguyễn Thế K nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu Y và cháu M là được ở với bố và ông bà nội nên giao hai con chung cho anh Nguyễn Thế K chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Hiện nay anh Nguyễn Thế K đang xuất khẩu lao động tại nước ngoài, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H nhận nuôi cháu Y và cháu M trong thời gian anh K ở nước ngoài. Vì vậy, tạm giao hai cháu là Nguyễn Hoàng Kim Y và Nguyễn Thảo M cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong thời gian anh Nguyễn Thế K ở nước ngoài.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Hoàng Vân A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng/01con/01tháng, tổng số tiền cấp dưỡng nuôi hai con là 5.000.000 đồng/01 tháng kể từ tháng 8/2024 đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Phương thức cấp dưỡng theo hằng tháng. Việc tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Hoàng Vân A về cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Nguyễn Hoàng Vân A xác định không có tài sản chung, không nợ ai và không có công sức đóng góp nên không đề nghị Tòa án giải quyết, còn anh Nguyễn Thế K không đến Tòa án làm việc nên không làm rõ được quan điểm về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp của vợ chồng. Vì vậy, không giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn. Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Nguyễn Hoàng Vân A phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hoàng Vân A về việc xin ly hôn anh Nguyễn Thế K. Xử cho chị Nguyễn Hoàng Vân A được ly hôn anh Nguyễn Thế K.
3. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Hoàng Kim Y - sinh ngày 11/01/2014 và Nguyễn Thảo M - sinh ngày 06/10/2015 cho anh Nguyễn Thế K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian anh Nguyễn Thế K ở nước ngoài, tạm giao cháu Nguyễn Hoàng Kim Y và Nguyễn Thảo M cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi anh Nguyễn Thế K về nước.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
4. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Hoàng Vân A về việc cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng/01 con/01tháng, tổng số tiền cấp dưỡng nuôi hai con là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng)/01 tháng kể từ tháng 8/2024 đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Phương thức cấp dưỡng theo hằng tháng.
5. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Không giải quyết.
6. Về án phí: Chị Nguyễn Hoàng Vân A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000176 ngày 30/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị Nguyễn Hoàng Vân A đã nộp đủ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn.
7. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Chiên |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Nguyễn Hoàng Vân A được ly hôn anh Nguyễn Thế K
