Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/5/2024

V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
    • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh
    • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trung
    • 2. Bà Huỳnh Thị Bích Vân
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Linh – Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 362/2023/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thiện T, sinh năm 1994 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp C, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang

  • - Bị đơn: Chị Võ Thị Hoàng Y, sinh năm 1995 (vắng mặt).

    Địa chỉ: 010/GCA, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/8/2023, trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Thiện T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Võ Thị Hoàng Y cưới nhau vào năm 2015 do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào năm 2015. Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2015 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chị Y có quan hệ tình cảm với người khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gổ, cự cãi nhau. Anh và chị Y đã sống ly thân từ tháng năm 2022 đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai vợ chồng không hàn gắn được với nhau. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với chị Võ Thị Hoàng Y

Về con chung: Anh và chị Y có 01 con chung tên Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 19/10/2015. Con chung hiện đang sống với anh, khi ly hôn anh yêu cầu được quyền nuôi con chung và không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn chị Võ Thị Hoàng Y đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên chị Y vắng mặt không lý do và không có lời trình bày ý kiến.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

  • - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71; bị đơn chưa chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Thiện T đối với chị Võ Thị Hoàng Y. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 19/10/2015 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị ghi nhận. Tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp, nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Thiện T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn chị Võ Thị Hoàng Y đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ, vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị Y.

[2] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thiện T và chị Võ Thị Hoàng Y cưới nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào ngày 17/8/2015 trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019, thì xảy ra mâu thuẫn với nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc theo lời trình bày của anh T là chị Y có mối quan hệ tình cảm với người khác dẫn đến vợ chồng gây gỗ với nhau. Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tiến hành hòa giải giữa anh T và chị Y nhưng chị Y không tham gia hòa giải, thể hiện chị không muốn cứu vãn cuộc hôn nhân giữa chị và anh T. Anh T thì vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với chị Y. Qua đó, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa anh T và chị Y đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, anh T yêu cầu ly hôn với chị Y là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh T và chị Y có 01 con chung tên Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 19/10/2015. Anh T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi cháu T1, cháu T1 cũng có nguyện vọng được sống với anh T nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của anh T là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh T tự nguyện không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con đây là sự tự nguyện của anh T được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung: Không có, không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.

[6] Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Thiện T phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thiện T được ly hôn với chị Võ Thị Hoàng Y. Quan hệ hôn nhân theo số đăng ký kết hôn số 089/2015 ngày 17/8/2015 của Ủy ban nhân dân xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 19/10/2015 cho anh Nguyễn Thiện T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con.

    Chị Võ Thị Hoàng Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị Y lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Không có, không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết
  5. Về án phí: Anh Nguyễn Thiện T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0006521 ngày 29/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Vị Tân (TP. Vị Thanh, Hậu Giang);
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh T được ly hôn chị Y
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger