|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HC-ST Ngày: 25-4-2024 |
|
|
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lập
Bà Kiều Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 236/2023/TLST-HC ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HC ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Lê Kim H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số B ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số D đường N, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn L - Phó Chủ tịch.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Văn H2 – Chuyên viên Phòng T2.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T - Phó Giám đốc Sở T;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Anh T1 - Phó Trưởng Phòng Hành chính tổng hợp - Văn phòng Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Kim L1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
(Ông H1, bà L1, bà T1 có mặt, ông L, ông H2, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện có nội dung như sau:
Bà H yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 116978 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Lê Kim L1 ngày 07/5/1998 đối với thửa số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209m² loại đất ĐRM tại xã B, huyện B, tỉnh Long An và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 628811 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lê Kim L1 ngày 23/5/2016 đối với thửa số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8m² loại đất trồng cây hằng năm khác tại xã B, huyện B, tỉnh Long An.
Về nguồn gốc thửa đất: Cha bà H là ông Lê Văn B (chết năm 1985) và mẹ bà H là bà Nguyễn Thị C (đã chết 2017). Vào khoảng năm 1995 mẹ bà H có cho bà phần đất diện tích khoảng 2.700m² (ngang 34m, dài 80m) thuộc một phần thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209m², loại đất ĐRM, tại thửa đất xã B, huyện B, tỉnh Long An, nhưng Ủy ban nhân dân huyện B lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Kim L1, mặt dù từ trước đến giờ bà Lê Kim L1 không sử dụng phần đất trên. Về hiện trạng sử dụng phần đất từ năm 1995 đến năm 2010 bà H trồng mía, từ năm 2010 đến năm 2022 bà H trồng thanh long, từ năm 2022 đến nay bà H trồng chanh. Phần đất của bà H và phần đất của bà Lê Kim L1 có ranh giới rõ ràng có cột mốc xác định giữa 02 chủ sử dụng đất.
Đầu năm 2023 chị em bà H làm thủ tục thừa kế đo đất cho các anh, chị em trong nhà thì bà H mới phát hiện phần đất của bà H đang sử dụng lại thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m² loại đất trồng cây hằng năm khác tại xã B, huyện B, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lê Kim L1 ngày 23/5/2016.
Do vậy bà H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận nêu trên.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà H rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M116976 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà L1 đã được Sở T cấp đổi thành thành giấy chứng nhận CC628811, đối với thửa đất số 3, tờ bản đồ số 29, do đó không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 116978.
- Người bị kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L: Có văn bản số 8623/STNMT-CPĐKĐĐ ngày 15/11/2023 có ý kiến như sau:
Ngày 07/5/1998 bà Lê Kim L1 được Ủy ban nhân dân huyện B ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành M 116978 (số vào sổ 1343QSDĐ/0213-LA) thuộc thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209 m², loại đất rau màu (ĐRM), xã B, huyện B, tỉnh Long An. Ngày 12/8/2014 bà Lê Kim L1 có Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất và đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209 m², loại đất rau màu (ĐRM) thành thửa đất số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m², loại đất trồng cây hàng năm khác và được Ủy ban nhân dân xã B xác nhận đủ điều kiện cấp đổi ngày 03/11/2014. Hồ sơ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện B thụ lý. Xét thấy hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Chi nhánh Văn phòng Đ tại huyện B chuyển hồ sơ cho Văn phòng Đăng ký đất đai trình Sở T ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Lê Kim L1 là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Đối với yêu cầu của người khởi kiện, Sở T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét, giải quyết theo quy định.
- Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện B không có ý kiến về yêu cầu của người khởi kiện.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà L1 trình bày: Hiện nay bà L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m² loại đất trồng cây hằng năm khác tại xã B, huyện B, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà L1 ngày 23/5/2016. Thửa đất này được cấp đổi từ thửa số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209 m² do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà L1 ngày 07/5/1998. Về nguồn gốc thửa đất 1178 (nay là thửa số 03) là do cha mẹ bà L1 là ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị C tặng cho quyền sử dụng đất. Khi bà nhận tặng cho quyền sử dụng đất thì không đo đạc thực tế. Hiện trạng phần đất của bà L1 đang trồng bưởi và mía. Phần đất của bà H và phần đất của bà L1 có ranh giới rõ ràng có cột mốc xác định giữa 02 chủ sử dụng đất.
Nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L1 đối với thửa đất số 1178 (nay là thửa số 03) bị cấp sai thì bà L1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cơ quan chức năng cấp lại đúng thực tế sử dụng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy, bà Lê Kim L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m² loại đất trồng cây hằng năm khác tại xã B, huyện B, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà L1 ngày 23/5/2016 nhưng thực tế thửa đất số 3 có hai chủ sử dụng, một phần thửa số 3 có chiều ngang mặt tiền giáp lối đi công cộng là 38m, chiều dài là 80m do bà H quản lý sử dụng trồng chanh, một phần thửa đất số 3, do bà Lê Kim L1 quản lý sử dụng trồng cây bưởi và mía. Sở T khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L1 chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất dẫn đến cấp sai đối tượng sử dụng đất. Bà H khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 628811 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lê Kim L1 ngày 23/5/2016 là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa người đại diện cho bà H rút lại một phần yêu cầu về việc đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 116978 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà L1 đối với thửa đất 1178, tờ bản đồ số 6. Thấy rằng việc rút yêu cầu là tự nguyện, nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Kim L1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 116978 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Lê Kim L1 ngày 07/5/1998 đối với thửa số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209 m² loại đất ĐRM và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 628811 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lê Kim L1 ngày 23/5/2016 đối với thửa số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m² loại đất trồng cây hằng năm khác tại xã B, huyện B, tỉnh Long An. Đây khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Đầu năm 2023 chị, em bà H làm thủ tục thừa kế, khi đo đất thì bà H mới phát hiện phần đất của bà H đang sử dụng lại thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m² loại đất trồng cây hằng năm khác tại xã B, huyện B, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lê Kim L1 ngày 23/5/2016. Nên ngày 16/10/2023 bà H nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là còn trong thời hiệu, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
[3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn yêu cầu không đối thoại nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng hành chính.
[4] Người đại diện của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện B ông Lê Văn L và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Trần Văn H2, người đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L ông Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông L, ông H2, ông T là phù hợp.
[5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:
Ngày 07/5/1998, bà Lê Kim L1 được Ủy ban nhân dân huyện B ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành M 116978 thuộc thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209 m², loại đất rau màu (ĐRM), tại xã B, huyện B, tỉnh Long An là cấp lần đầu theo quy định của Luật Đất đai 1993. Ngày 12/8/2014 bà Lê Kim L1 có đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất và đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209 m², loại đất rau màu (ĐRM) thành thửa đất số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m², loại đất trồng cây hàng năm khác và được Ủy ban nhân dân xã B xác nhận đủ điều kiện cấp đổi ngày 03/11/2014. Hồ sơ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện B thụ lý. Xét thấy hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Chi nhánh Văn phòng Đ tại huyện B chuyển hồ sơ cho Văn phòng Đăng ký đất đai trình Sở T ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Lê Kim L1 là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Tuy nhiên, khi thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Kim L1, Ủy ban nhân dân huyện B, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L đã không thực hiện kiểm tra xác minh hiện trạng, vị trí, đối tượng sử dụng đất là sai sót.
[6] Về nội dung của quyết định hành chính: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thể hiện thửa đất số 3, tờ bản đồ số 29, có hai chủ sử dụng, một phần thửa số 3 có chiều ngang mặt tiền giáp lối đi công cộng là 38m, chiều dài là 80m do bà H quản lý sử dụng trồng chanh, một phần thửa đất số 3 còn lại, do bà Lê Kim L1 quản lý sử dụng trồng cây bưởi và mía. Nội dung này được thể hiện qua lời khai của bà L1, bà H, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/03/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Như vậy, có cơ sở xác định Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L1 thửa số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m² loại đất trồng cây hằng năm khác tại xã B, huyện B, tỉnh Long An là sai đối tượng, hình thể, diện tích sử dụng là trái với quy định tại Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ nên được chấp nhận như đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành M 116978 thuộc thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209 m², loại đất rau màu (ĐRM), tại xã B, huyện B, tỉnh Long An thấy rằng thửa đất 1178 đã được Sở T cấp biến động theo yêu cầu của bà L1 thành thửa 29, nên thửa 1178 không còn, đồng thời tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H1 đại diện cho bà H rút yêu cầu này. Căn cứ Điều 143, Điều 165 Luật Tố tụng hành chính Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là phù hợp.
[7] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Bà H đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo Khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng hành chính.
Về án phí: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 143, Điều 165, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng Hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Áp dụng Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Kim H
- Đình chỉ xét xử đối vời yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành M 116978 thuộc thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 6, diện tích 5209 m², loại đất rau màu (ĐRM), tại xã B, huyện B, tỉnh Long An.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Kim H phải chịu 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, bà H đã nộp xong.
- Về án phí: Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà Lê Kim H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000128 ngày 11/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 628811 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lê Kim L1 ngày 23/5/2016 đối với thửa số 3, tờ bản đồ số 29, diện tích 5206,8 m², loại đất trồng cây hằng năm khác tại xã B, huyện B, tỉnh Long An.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
Bản án số 52/2024/HC-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 52/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Kim Huệ "Khiếu kiện quyết định hành chính" Ủy ban nhân dân huyện Bến Lức
