TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 52/2023/HS-ST Ngày 28-11-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Thành;
- Ông Vi Quang Thái.
- Thư ký phiên toà: Bà Sầm Thị Thao - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vương Văn P, Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2023/HSST ngày 17/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST–HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo:
Ngọc Văn S, sinh năm 1994 tại huyện S, tỉnh Bắc Giang (bị cáo có mặt tại phiên tòa);
Nơi thường trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngọc Văn T (đã chết) và Bàn Thị T1, bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án:
- - Tại Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 18/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 12 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tính từ ngày 30/11/2018. Ngọc Văn S chấp hành xong bản án ngày 06/6/2020.
- - Tại Bản án số 02/2019/HS-ST ngày 07/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, xử phạt S 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. Ngày 30/5/2020, Ngọc Văn S đã chấp hành xong bản án.
- - Tại Bản án số 355/2020/HS- ST ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2020. Ngày 10/11/2021, S đã chấp hành xong bản án về địa phương.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Bị hại: Hoàng Thị M, sinh năm: 1986 (có mặt);
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện tại: Thôn R, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ngọc Văn M1, sinh năm 1968 (vắng mặt);
- Anh Phạm Văn P1, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Nơi thường trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 13/6/2023, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave biển kiểm soát 98L7- 5387 (xe mượn của ông Ngọc Văn M1) đi từ nhà đến Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang mục đích lên rừng tìm lấy nấm Lim. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày S từ Tổ dân phố Mậu, thị trấn T Tử theo Tỉnh lộ 293 về nhà ở thôn T, xã L. Khoảng 16 giờ cùng ngày S đến địa phận thôn R, xã T, huyện S thì xe hết xăng, S dắt xe vào nhà chị Hoàng Thị M với mục đích xin xăng nhưng nhà chị M không có ai ở nhà. S phát hiện chùm chìa khóa nhà để dưới đáy giỏ nhựa trên bờ tường, trước cửa đi vào bếp, S dùng chìa khóa mở khoá cửa bếp, đi vào bên trong, đi thông lên phòng khách của nhà chính, S phát hiện tại phòng khách có 01 (một) điện thoại di động Iphon8 plus, mầu đen loại 64GB (trong ốp điện thoại có 30.000 đồng đang cắm dây sạc pin để tại Kệ loa, S lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần bên trái, sau đó S vào phòng ngủ thấy 01 (một) điện thoại di động loại S1 J5 Prime, mầu đen đang cắm sạc pin để tại cửa sổ, S tiếp tục lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần bên trái đang mặc rồi ra ngoài, khóa cửa nhà bếp lại như cũ và để chìa khóa bếp vào vị trí ban đầu. Sau đó S dắt xe mô tô ra đường tỉnh lộ 293 đến cây xăng xã T, mua 30.000 đồng tiền xăng rồi đến cửa hàng mua bán điện thoại Phượng Hoàng bán cho anh Phạm Văn P1 chiếc điện thoại di động Iphone8 plus 64GB, được 1.900.000 đồng, S đã chi tiêu hết số tiền trên, còn chiếc điện thoại di động Sam sung Galaxy J5 Prime Sơn để lại sử dụng.
Ngày 06/7/2023 chị Hoàng Thị M trình báo Công an xã T, Công an xã T đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 25/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã Yêu cầu định giá tài sản đối với 02 (hai) chiếc điện thoại nêu trên.
Tại Kết luận đị giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS, ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện S xác định giá trị 02 chiếc điện thoại tại thời điểm bị chiếm đoạt: Chiếc điện thoại Iphone8 plus 64GB giá trị 3.500.000 đồng; chiếc điện thoại Samsung GalaxyJ 5 Prime giá trị 700.000 đồng.
Ngày 27/7/2023, chị Hoàng Thị M nộp 06 (sáu) tờ giấy A4 in hình ảnh chụp định vị điện thoại của chị bị mất trộm ngày 13/6/2023 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S. Cơ quan điều tra đã triệu tập Ngọc Văn S để làm việc. Tại cơ quan điều tra Ngọc Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của chị M như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 17/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang truy tố Ngọc Văn Sơn về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động trình bày luận tội tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ngọc Văn S. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14.
- Xử phạt Ngọc Văn S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động còn đề nghị về án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động luận tội, bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các hành vi tố tụng hợp pháp, bản thân bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
Việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, qua xét hỏi, bị cáo Ngọc Văn S khai nhận nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone8 plus loại 64GB, bên trong ốp điện thoại có 30.000 đồng), 01 (một) điện thoại di động S1 J5 Prime của chị M như nội dung bản Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng đã truy tố đúng người, đúng tội, bị cáo không kêu oan.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ được, phù hợp về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện tội phạm và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 4.200.000 đồng. Do vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, bị cáo Ngọc Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố bị cáo S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản, là khách thể được luật hình sự bảo vệ, vì vậy cần có bản án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân bị cáo: Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có nhiều tiền án về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù giam để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Bị cáo là người không có tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.
[6] Vật chứng của vụ án: Ngày 30/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Hoàng Thị M chiếc điện thoại Sam sung Galaxy J5 Prime, mầu đen do bị cáo S giao nộp là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển kiểm soát 98L7-5387 bị cáo mượn của ông Ngọc Văn M1, ông M1 không biết việc S sử dụng chiếc xe thực hiện hành vi trộm cắp nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
[7]Về Trách nhiệm dân sự: 01 chiếc thoại Iphone8 plus 64GB, sau khi mua của bị cáo anh P1 đã bán cho một người không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không thu hồi được, tại phiên toà chị M yêu cầu bị cáo S phải bồi thường 3.500.000đồng, bị cáo S đồng ý bồi thường cho chị M 3.500.000đồng nên công nhận sự tự nguyện của bị cáo. Số tiền 30.000 đồng trong ốp điện thoại S đã chi tiêu hết chị M không yêu cầu S phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.
[8] Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 30, Điều 292, khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
- Xử phạt: Ngọc Văn S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
- Buộc Ngọc Văn S phải trả cho chị Hoàng Thị M 3.500.000đồng. (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Án phí: Bị cáo Ngọc Văn S được miễn án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thạo |
6
Bản án số 52/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 52/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGOC VĂN SƠN TCTS
