|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2023/HNGĐ-PT. Ngày: 06/12/2023 V/v : “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông; Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên toà: ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 06/12/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 42/2023/TLPT- HNGĐ ngày 16/10/2023 Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung” do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2023/TLST- HNGĐ ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 52/2023/QĐ-PT ngày 01/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2023/QĐ-PT ngày 20/11/2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lương Thị Phương T, sinh năm 1990. (Có mặt)
Địa chỉ: số 1 đường C, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Phí Quang C, sinh năm 1990. (Có mặt)
Địa chỉ: số D đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phí Quang C1, sinh năm 1968. (Có mặt)
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1969. (Bà M uỷ quyền cho ông C1, ông C1 có mặt).
Cùng địa chỉ: số nhà C, đường Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Phí Quang C1: Luật sư Phan T1- Văn phòng luật sư Phan T1 và công sự - Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).
* Người kháng cáo: Anh Phí Quang C, Bà Lê Thị M, Ông Phí Quang C1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Lương Thị Phương T là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị với anh Phí Quang C ký kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố B năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số D đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm nên đã ly thân từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau. Chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, không có khả năng đoàn tụ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Phí Quang C
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Phí Vĩnh H, sinh ngày 02/02/2015 và Phí Vĩnh K, sinh ngày 30/5/2018. Hiện hai con chung đang ở cùng chị. Chị đề nghị giao cho anh Quang C nuôi dưỡng con chung Phí Vĩnh H, chị nuôi dưỡng con chung Phí Vĩnh K. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện chị đang làm việc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh B, thu nhập bình quân 12.000.000đồng/01 tháng và đang ở ổn định cùng bố mẹ đẻ tại số nhà I đường C, phường D, thành phố B, đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung: Chị đề nghị chia tài sản như sau:
Thứ nhất, Căn nhà tại số D đường Đ, Phường X, thành phố B. Về nguồn gốc tài sản: Vào năm 2014 sau khi chị và anh C kết hôn, bố mẹ chồng chị cho anh chị ra ở riêng. Trước khi làm nhà chị đã góp số vàng là cưới của chị trị giá 60.000.000đồng cho bố mẹ chồng chị. Đồng thời, bố mẹ đẻ chị cho chị tiền để thanh toán các hạng mục khi xây dựng nhà với tổng số tiền 687.000.000đồng (gồm gạch xây trị giá 105.000.000đồng, gạch lát nền tầng 1 trị giá: 35.000.000đồng, sàn gỗ lát nền tầng 2 trị giá: 28.000.000đồng, sàn tầng 3 và 4 trị giá 40.000.000đồng, gạch ốp lát 3 nhà vệ sinh và thiết bị vệ sinh trị giá 60.000.000đồng; cầu thang gỗ toàn bộ ngôi nhà trị giá 98.000.000đồng; hệ thống điện nước trong nhà 210.000.000đồng; các trang thiết bị trong nhà khác như 3 điều hòa trị giá 40.000.000đồng, tủ lạnh 11.000.000đồng, bàn ghế gỗ phòng bếp và khuôn ốp gỗ trang trí phòng khác trị giá 40.000.000đồng; hệ thống camera 10.000.000đồng; cửa inox 3 tầng trị giá 10.000.000đồng). Tài sản hai vợ chồng cùng sắm sửa trang bị cho ngôi nhà trước khi vào ở gồm: Tủ bếp, bàn ghế ăn, ti vi, máy giặt, máy lọc nước, bếp điện, rèm cửa phòng ngủ 3 tầng nhà, giá trị khoảng 85.000.000 đồng. Bản thân chị và anh C đã cùng nhau đóng góp trong quá trình xây dựng ngôi nhà, cũng như mua sắm trang thiết bị, chăm chút, bảo dưỡng cho ngôi nhà trong suốt thời gian sử dụng kể từ năm 2015 đến khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn vào tháng 5/2022. Nay chị xác định tài sản căn nhà trên là tài sản chung của vợ chồng và đề nghị Tòa án giao cho anh C được quản lý, sử dụng nhà, trích chia cho chị một nửa giá trị căn nhà theo như giá mà Hội đồng định giá đã kết luận.
Chị không yêu cầu giải quyết đối với quyền sử dụng đất tại địa chỉ số D đường Đ, bởi đây là tài sản của bố mẹ chồng chị là bà Lê Thị M và ông Phí Quang C1.
Thứ hai, 02 xe ô tô: 01 Xe ô tô Mazda, biển kiểm soát 98A - 186.43, 01 Xe ô tô Nissan biển kiểm soát 29C - 921.24 là tài sản chung vợ chồng, chị đề nghị cho chị quản lý, sử dụng xe ô tô Mazda, anh C quản lý, sử dụng xe ô tô Nissan. Chị nhất trí giá trị của xe như kết luận của Hội đồng định giá tài sản.
Thứ ba, Cổ phần đứng tên Phí Quang C tại Công ty cổ phần Q1 – Bắc Giang, tổng số 3.000 cổ phần trị giá 90.000.000đồng. Chị yêu cầu anh Phí Quang C sang tên cho chị toàn bộ cổ phần đứng tên Phí Quang C tại Công ty cổ phần Q1 – Bắc Giang là 3.000 cổ phần trị giá 90.000.000đồng.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Phí Quang C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố B vào năm 2014. Quá trình chung sống có một số mâu thuẫn nhỏ. Nay chị T yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý, anh xác định vợ chồng còn hai con nhỏ, cần sự chăm sóc của cả bố và mẹ.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung như chị T trình bầy là đúng. Anh yêu cầu Tòa án giao cho anh nuôi dưỡng cả hai con chung bởi anh không muốn tách các con mà muốn con được ở cùng nhau cho có tình cảm anh em. Hiện anh đang cư trú ổn định tại số nhà D đường Đ, phường X, thành phố B. Hiện anh đang làm việc tại Công ty B và Công ty cổ phần X, thu nhập bình quân từ 12.000.000đồng - 15.000.000đồng/1 tháng, đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung: Anh xác định anh và chị T có tài sản chung là: 01 xe ô tô Mazda, biển kiểm soát 98A- 186.43; 01 Xe ô tô Nissan biển kiểm soát 29C - 921.24 và 3000 cổ phần tại Công ty cổ phần Q1. Anh nhất trí để chị T tiếp tục quản lý, sử dụng xe ô tô Mazda, anh quản lý, sử dụng xe ô tô Nissan. Đối với 3000 cổ phần tại Công ty cổ phần Q1, anh đồng ý để chị T đứng tên. Tuy nhiên, tại đơn đề nghị ngày 13/02/2023, anh đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung của vợ chồng theo quy định pháp luật trên cơ sở tỷ lệ % công sức đóng góp.
Đối với tài sản mà chị T yêu cầu chia là căn nhà tại số D đường Đ, phường X, thành phố B, anh xác định nguồn tiền để chi phí xây dựng nhà chủ yếu là của bố mẹ anh là ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà, chị T và bố mẹ chị T có một phần đóng góp. Sau khi xây dựng và hoàn thiện xong nhà, cuối năm 2014, bố mẹ anh cho anh và chị T ra ở riêng tại địa chỉ này. Anh xác định tài sản là căn nhà tại số D đường Đ là tài sản của bố mẹ đẻ anh, không phải tài sản chung của anh và chị T.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M thống nhất trình bày như sau:
Về nguồn gốc quyền sử dụng đất ở số nhà D đường Đ, phường X, thành phố B là của vợ chồng ông bà mua năm 2013, được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 780047 ngày 03/9/2013 mang tên ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M. Năm 2014 vợ chồng ông làm nhà, tổng toàn bộ chi phí cho việc xây dựng và hoàn thiện căn nhà nói trên là 2.119.000.000đồng. Trong đó, vợ chồng ông chi phí hết 1.539.000.000đồng (để thực hiện các hạng mục. Trong quá trình xây dựng, bố mẹ đẻ chị T có đóng góp 630.000.000đồng và chị T có đưa cho vợ chồng ông số tiền 60.000.000đồng. Tổng cộng số tiền chị T và bố mẹ chị T đóng góp được 690.000.000đồng. Ông bà đề nghị Tòa án xem xét trích chia cho chị T theo tỷ lệ % công sức đóng góp của chị T và bố mẹ chị T theo giá trị nhà ở được khấu hao.
Đối với tài sản là xe ô tô Mazda và ô tô Nissan chị T và anh C đang sử dụng, ông bà đề nghị Tòa án phân chia theo quy định pháp luật.
Ngày 20/6/2023, bà M có đơn đề nghị gửi Toà án với nội dung thay đổi lời trình bày trước đây. Bà không đồng ý với yêu cầu của chị T về chia giá trị ngôi nhà nêu ở trên. Bà xác định đây là ngôi nhà của vợ chồng bà xây trên đất của ông bà, chỉ cho vợ chồng chị T mượn ra ở riêng cuối năm 2014. Bà xác định khi làm nhà, vợ chồng chị T đưa cho vợ chồng ông bà 60.000.000đồng, thời gian xây nhà chị T mang thai về sinh sống với bố mẹ đẻ, nên chưa có đủ thời gian đóng góp công sức vào việc xây nhà. Việc chị T kê ra các hạng mục xây dựng với tổng số tiền chi phí 687.000.000đồng, nhưng không đưa ra các căn cứ chứng minh là đã làm những hạng mục gì, hết bao nhiêu tiền nên ông bà không đồng ý với yêu cầu của chị T. Chị T yêu cầu đòi chia thì ông bà yêu cầu chị T phải chứng minh các hạng mục đã làm là gì, chi phí hết bao nhiêu.
* Tại Biên bản làm việc của Toà án ngày 07/12/2022 với ông Lương Vũ H1 (Là bố đẻ chị T) trình bầy: vợ chồng ông có cho chị T tiền để xây dựng căn nhà tại số D đường Đ, phường X, thành phố B. Do thời gian quá lâu nên ông không nhớ được chị T đã dùng tiền được cho để xây dựng những hạng mục gì. Khoản tiền ông bà đã cho chị T dùng để xây nhà thì ông bà khẳng định đã cho các con, ông không yêu cầu gì. Ông xác định vợ chồng ông không liên quan gì đến việc chia tài sản giữa chị T và anh C.
* Tại Biên bản làm việc ngày 09/12/2022, tổ trưởng tổ dân phố N, phường X cung cấp: Chị Lương Thị Phương T và anh Phí Quang C là người địa phương khác chuyển đến sinh sống tại số nhà D đường Đ, phường X. Quá trình chung sống, anh chị có mâu thuẫn gì địa phương không nắm rõ. Việc chị T yêu cầu khởi kiện về ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản, đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết.
* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản như sau:
- 01 xe ô tô Mazda, biển kiểm soát 98A- 186.43 trị giá 430.000.000 đồng
- 01 xe ô tô Nissan biển kiểm soát 29C – 921.24 trị giá 400.000.000 đồng;
- Nhà trên đất tại số D đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, tổng giá trị 1.463.617.000 đồng.
* Từ những nội dung trên, Bản án sơ thẩm số 38/2023/TLST- HNGĐ ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ các Điều 33, 34, 38, 56, 59, 64, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Lương Thị Phương T được ly hôn anh Phí Quang C.
- Về con chung: giao cho chị Lương Thị Phương T quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Phí Vĩnh K, sinh ngày 30/5/2018; giao cho anh Phí Q Cường quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Phí Vĩnh H sinh ngày 02/02/2015.
- Về tài sản chung:
- + Giao cho ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M có quyền sở hữu đối với ngôi nhà gắn liền trên thửa đất : Lô số 25-N21, tờ bản đồ số : Quy hoạch phân lô khu dân cư số 2, địa chỉ thửa đất : Khu dân cư mới số 2, xã D, thành phố B (địa chỉ hiện nay : Số D đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang), diện tích: 81,0m² (Đất được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01829/QĐ_số 3149/QĐ-UBND ngày 03/9/2013, tên chủ sử dụng đất : Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M). Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu đối với ngôi nhà này theo quy định của pháp luật.
- + Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M có nghĩa vụ trả cho chị Lương Thị Phương T 585.446.000 đồng
- + Giao cho chị Lương Thị Phương T sở hữu 01 xe ô tô Mazda, biển kiểm soát 98A- 186.43, số đăng ký: 035417 do Phòng C3, Công an tỉnh B cấp ngày 26/6/2018 mang tên Phí Quang C và quyền sở hữu đối với 3000 cổ phần theo Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần (Phát hành lần đầu năm: 2020), số sổ: IMP046 ngày 31/5/2020 của Công ty cổ phần Q1- Bắc Giang, họ và tên cổ đông Phí Quang C; chị Lương Thị Phương T có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu đối với xe ô tô Mazda, biển kiểm soát 98A- 186.43 và đăng ký quyền sở hữu đối với 3000 cổ phần nêu trên theo quy định của pháp luật.
- + Chị Lương Thị Phương T có nghĩa vụ trích chia cho anh Phí Quang C 60.000.000 đồng
- + Tạm giao cho anh Phí Quang C được quyền sở hữu 01 xe ô tô Nissan biển kiểm soát 29C- 921.24, Số đăng ký: 298514 do Phòng C3, Công an T4 cấp ngày 14/9/2016 mang tên Bùi Thanh T2. Anh Phí Quang C có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu đối với xe ô tô Nissan biển kiểm soát 29C- 921.24 theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 11/7/2023 bị đơn anh Phí Quang C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, không đồng ý xác định tài sản là nhà trên đất của vợ chồng anh C chị T và buộc bà M ông C1 phải có trách nhiệm trích chia cho chị T số tiền 585.446.000đồng. Yêu cầu định giá lại tài sản là nhà trên đất và 02 chiếc xe ô tô. Anh C không đồng ý giao cổ phần cho chị T. Ông bà và anh C đề nghị giao tài sản là nhà trên đất cho ông bà.
Hội đồng định giá đã tiến hành định giá theo yêu cầu của ông C1 bà M và anh C, tại phiên định giá các đương sự xin rút yêu cầu định giá 02 chiếc xe ô tô, đề nghị định giá nhà trên đất. Kết quả định giá xác định tổng trị giá ngôi nhà giá trị còn lại là 77,5% = 1.436.617.000đồng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn anh C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông C1, bà M không rút đơn kháng cáo. Tại phiên tòa các đương sự trình bày:
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C1 và ông Phí Quang C1 trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ngôi nhà gắn liền trên thửa đất: Số D đường Đ, phường X, thành phố B do vợ chồng ông C1 bà M bỏ tiền ra xây dựng gần như toàn bộ khi chị T mới về làm dâu được vài tháng. Chị T có đưa cho ông 60.000.000đồng, không có việc bố mẹ chị T đưa tiền cho ông bà, còn việc bố mẹ chị T có đưa cho chị T hay không thì ông bà không biết. Ông bà đồng ý chia công sức cho chị T nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định. Trường hợp Hội đồng xét xử thấy việc bố mẹ chị T có cho chị T 630.000.000đồng để góp xây dựng nhà thì đề nghị trích theo giá trị khấu hao như kết quả định giá 690.000.000đồng x 77,5% để chia công sức cho chị T là 534.000.000đồng thì ông bà đồng ý.
- Anh Phí Quang C trình bày: anh đồng ý với trình bày của ông C1, anh không có công sức gì và không đóng góp gì cho việc xây dựng nhà, trường hợp Tòa án xác định chị T và bố mẹ chị T có cho chị T số tiền 690.000.000đồng để góp xây nhà thì anh cũng không đề nghị gì và không có yêu cầu gì, anh đề nghị giao nhà trên đất cho bố mẹ anh. Tại phiên tòa anh xin rút kháng cáo đề nghị xem xét lại số cổ phần và 02 chiếc xe mô tô.
- Chị Lương Thị Phương T trình bày: Chị đồng ý với phần trình bày của ông C1 và anh C, chị đồng ý xác định nhà trên đất là của ông C1 bà M, đồng ý nhận số tiền chia công sức như ông C1 đề nghị tính theo giá định giá chị nhận lại 77,5% của số tiền 690.000.000đồng là 534.000.000đồng.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ịch hợp pháp cho ông C1 trình bày tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đề nghị của ông C1, giao nhà trên đất cho ông C1 bà M, ông bà trích tiền công sức cho chị T số tiền 534.000.000đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự. Công nhận thỏa thuận của các đương sự. Sửa bản án sơ thẩm số 38/2023/TLST- HNGĐ ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về việc chia tài sản, cụ thể:
Giao cho ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M quyền sở hữu đối với ngôi nhà gắn liền trên thửa đất : Lô số 25-N21, tờ bản đồ số : Quy hoạch phân lô khu dân cư số 2, địa chỉ thửa đất : Khu dân cư mới số 2, xã D, thành phố B (địa chỉ hiện nay : Số D đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang), diện tích: 81,0m² (được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01829/QĐ số 3149/QĐ-UBND ngày 03/9/2013, mang tên Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M). Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu đối với ngôi nhà này theo quy định của pháp luật.
Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M phải trả (trích chia) cho chị Lương Thị Phương T 534.000.000 đồng (Năm trăm, ba mươi tư triệu đồng).
Chi phí định giá: Ông C1, bà M phải chịu số tiền 3.000.000đồng chi phí định giá tài sản.
Về án phí: Bà M, ông C1 anh C phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm vấn tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 38/2023/TLST- HNGĐ ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã giải quyết về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung giữa chị T và anh C. Nội dung này các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệc lực pháp luật, HĐXX không xem xét giải quyết.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M và anh Phí Văn C2, HĐXX thấy:
[2.1]. Đối với tài sản là 02 chiếc xe ô tô và cổ phần trị giá 90.000.000đồng tại Công ty cổ phần Q1-Bắc Giang:
Bản án sơ thẩm giao cho chị T sở hữu 01 xe ô tô Mazda, biển kiểm soát 98A- 186.43 trị giá 430.000.000 đồng và quyền sở hữu đối với 3000 cổ phần của Công ty cổ phần Q1 trị giá 90.000.000đồng. Tạm giao cho anh Phí Quang C được quyền sở hữu 01 xe ô tô Nissan biển kiểm soát 29C-921.24 trị giá 400.000.000 đồng. Đồng thời, Chị Lương Thị Phương T có nghĩa vụ trích chia cho anh Phí Quang C 60.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh C rút 1 phần kháng cáo không đề nghị xem xét về tài sản là 02 chiếc xe ô tô và cổ phần trị giá 90.000.000đồng tại Công ty cổ phần Q1-Bắc Giang nêu trên nữa, chị T đồng ý việc rút kháng cáo của anh C. HĐXX xét thấy việc rút yêu cầu nêu trên của anh C là tự nguyện, không bị ai ép buộc, không trái pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ 1 phần kháng cáo của anh C đối với nội dung kháng cáo nêu trên.
[2.2]. Đối với ngôi nhà tại số D đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang:
Các đương sự đều thừa nhận: Chị T và anh C sau khi kết hôn được ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M (là bố mẹ đẻ anh C) đứng ra xây dựng căn nhà số D đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để làm nơi cho anh chị sống riêng. Các đương sự đều xác nhận việc sau khi xây dựng hoàn thiện thì chị T và anh C đến sinh sống tại căn nhà địa chỉ số D đường Đ từ cuối năm 2014 cho đến khi chị T sống ly thân với anh C vào tháng 5 năm 2022. Ông C1 và bà M ở chỗ khác tại số nhà C, đường Đ, phường N, TP B.
Tại phiên tòa do các đương sự đều thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thỏa thuận của các đương sự, xác định nhà trên đất là của ông C1, bà M và đều thống đề nghị giao cho ông C1, bà M. Đồng thời, ông C1, bà M trích chia công sức cho chị T số tiền 534.000.000đồng. Hội đồng xét xử thấy việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái đạo đức, không trái quy định của pháp luật nên cần căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự để công nhận thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
[3]. Từ những phân tích trên. HĐXX chấp nhận 1 phần kháng cáo của anh Phí Văn C2, chấp nhận kháng cáo của ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M, Công nhận thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 300- Bộ luật tố tụng dân sự xử: Công nhận thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, Sửa bản án sơ thẩm số 38/2023/TLST- HNGĐ ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về phần tài sản chung.
[4]. Về chi phí định giá tài sản: Quá trình xét xử phúc thẩm, ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm định giá lại tài sản tranh chấp, chi phí định giá lại tài sản là 3.000.000đồng nên ông C1 và bà M chịu 3.000.000đồng tiền chi phí định giá. Xác nhận ông C1 đã nộp đủ.
[5]. Về án phí:
Án phí chia tài sản: Do chia lại tài sản nên các đương sự phải chịu án phí cụ thể: Ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M được nhận phần tài sản trị giá 929.617.000đồng nên phải chịu 39.888.000đồng; Anh Phí Quang C được nhận phần tài sản trị giá 460.000.000đồng nên anh C phải chịu án phí 22.400.000đồng; Chị Nguyễn Thị Phương T3 được nhận 994.000.000đồng nên chị T3 phải chịu 41.820.000đồng.
Về án phí phúc thẩm: Do công nhận thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa nên ông C1, bà M, anh C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2, Điều 308; Điều 309; Điều 300; điểm c khoản 1 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án đối với kháng cáo của anh Phí Quang C về tài sản là 02 chiếc xe ô tô và cổ phần trị giá 90.000.000đồng tại Công ty cổ phần Q1-Bắc Giang.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn anh Phí Quang C. Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M. Công nhận thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Sửa bản án sơ thẩm số 38/2023/TLST- HNGĐ ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung” giữa Nguyên đơn chị Lương Phương T với bị đơn anh Phí Quang C về phần tài sản chung cụ thể:
2.1. Giao cho ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M quyền sở hữu đối với ngôi nhà gắn liền trên thửa đất : Lô số 25-N21, tờ bản đồ số : Quy hoạch phân lô khu dân cư số 2, địa chỉ thửa đất : Khu dân cư mới số 2, xã D, thành phố B (địa chỉ hiện nay : Số D đường Đ, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang), diện tích: 81,0m² (Đất được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01829/QĐ số 3149/QĐ-UBND ngày 03/9/2013 mang tên ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M). Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu đối với ngôi nhà này theo quy định của pháp luật.
2.2. Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M phải trích chia cho chị Lương Thị Phương T số tiền 534.000.000 đồng (Năm trăm, ba mươi tư triệu đồng).
Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải trả cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Chi phí định giá tài sản: Ông Phí Quang C1 và bà Lê Thị M phải chịu 3.000.000đồng chi phí định giá tài sản. (xác nhận ông C1 đã nộp xong)
4. Án phí chia tài sản:
Chị Nguyễn Thị Phương T3 phải chịu 41.820.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.950.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001780 ngày 17/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
Ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M phải chịu 39.888.000đồng.
Anh Phí Quang C phải chịu án phí 22.400.000đồng.
5. Án phí phúc thẩm: Ông Phí Quang C1, bà Lê Thị M và anh Phí Quang C mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông Phí Quang C1 đã nộp 300.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002417 ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận bà Lê Thị M đã nộp 300.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002418 ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận anh Phí Quang C đã nộp 300.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002416 ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 52/2023/HNGĐ-PT ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung
- Số bản án: 52/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thảo ly hôn Cường
