|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29-6-2021
Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Hòa
- Bà Lê Thị Kiều Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bạch Hoàng Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 136/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 137/2021/QĐST-HNGĐ ngày 11/6/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th Th, sinh năm 1997
Nơi cư trú: Khu phố A, phường M, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Ông Trương Tấn T, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Khu phố B, phường M, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa vắng mặt bà Th, ông T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Th Th và ông Trương Tấn T tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Mũi Né, Tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận vào năm 2015.
Sau khi chung sống do không hợp nhau, bất đồng quan điểm về cách sống cũng như sinh hoạt hàng ngày, bản thân bị áp lực và trầm cảm khi sống bên nhà chồng. Từ tháng 11/2020 do không sống chung được nên bà Th về nhà chị gái sống cho đến nay. Kể từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông T.
Về con chung: Bà Th khai giữa bà và ông T có 03 con chung tên Trương Bảo N, sinh ngày 18/4/2017; Trương Bích N, sinh ngày 18/4/2017 và Trương Hải Đ, sinh ngày 19/7/2019. Sau khi ly hôn bà Th đồng ý giao cháu Bảo N và cháu Bích N cho ông T nuôi; còn bà Th yêu cầu được nuôi cháu Hải Đ; chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ông Trương Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần cũng như tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng ông T cũng không đến Tòa án và cũng không trình bày ý kiến của mình. Vụ án không hòa giải được do ông T không đến tòa.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho bà Th được ly hôn với ông T; Giao cháu Trương Bảo N và cháu Trương Bích N cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao cháu Trương Hải Đ cho bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung không xét do không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Th Th yêu cầu ly hôn ông Trương Tấn T và yêu cầu giải quyết về nuôi con. Bị đơn ông Trương Tấn T cư trú tại thành phố Phan Thiết. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Th Th có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Trương Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bà Th, ông T.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông T là hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2020, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th.
[3.2] Về con chung: Xét thấy các con còn nhỏ, bà Th đồng ý giao 02 con lớn cho ông T và yêu cầu nuôi con nhỏ nhất (dưới 36 tháng tuổi). Việc giao cháu Bảo N, Bích N cho ông T và cháu Hải Đ cho bà Th là phù hợp quy định pháp luật và đảm bảo lợi ích của các cháu.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Th Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, 21, 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Th Th.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Th Th được ly hôn với ông Trương Tấn T.
- Về con chung: Giao cháu Trương Bảo N (sinh ngày 18/4/2017) và cháu Trương Bích N (sinh ngày 18/4/2017) cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Trương Hải Đ (sinh ngày 19/7/2019) cho bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Th Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (đã nộp tạm ứng).
Bà Nguyễn Thị Th Th, ông Trương Tấn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND Tp Phan Thiết; - Chi cục THADS Tp Phan Thiết; - Cơ quan đã thực hiện việc ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) QUÁCH VĂN HOÀNG |
Bản án số 52/2021/HNGĐ-ST ngày 29/06/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 52/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
