TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51b /2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-8-2024 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng:
Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 121/2024/TLST-HNGĐ ngày 12/4/2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thảo S; sinh năm 1992; Địa chỉ cư trú: Số B P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Ông Trần Bình S1; sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: Số B P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị Thảo S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Bình S1 tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với gia đình ông S1 tại số B P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn từ tháng 11/2019. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bà hiện nay đã không sống chung với nhau. Bà xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà không khắc phục được, vợ chồng không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Bình S1.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung là Bùi Trần Hà U, sinh ngày 29/10/2016 và Bùi Trần Hà U1, sinh ngày 11/02/2020. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Trần Bình S1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Bùi Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trần Bình S1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Trần Bình S1 không có mặt tại Tòa án để tham gia hòa giải và không có bản khai gửi Tòa án. Sau khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến phiên tòa nhưng ông S1 vẫn vắng mặt.
* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật.
- Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Thảo S đối với ông Trần Bình S1.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung Bùi Trần Hà U, sinh ngày 29/10/2016 và Bùi Trần Hà U1, sinh ngày 11/02/2020 cho bà Bùi Thị Thảo S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông TRần Bình S2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Bùi Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên.
Về án phí: Bà Bùi Thị Thảo S phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/02/2024 thì nguyên đơn bà Bùi Thị Thảo S khởi kiện đối với ông Trần Bình S1 về việc ly hôn và nuôi con chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
[1.2] Bị đơn ông Trần Bình S1 cư trú tại số B P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[1.3] Bị đơn ông Trần Bình S1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Bình S1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thảo S và ông Trần Bình S1 tự nguyện kết hôn vào 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (số 11/2015 Quyển số 01 ngày 01/10/2015). Do đó, hôn nhân giữa bà Bùi Thị Thảo S và ông Trần Bình S1 là hợp pháp. Theo bà S, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ ông S1 đến tháng 11/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên có lời qua tiếng lại. Bà S xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà không thể khắc phục được, vợ chồng không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông S1. Xét thấy hiện nay bà S và ông S1 không còn sống chung với nhau, ông S1 hiện sống tại nhà cha mẹ của ông tại quận C còn bà S sống tại nhà cha mẹ của bà ở quận L, không ai quan tâm đến ai. Hơn nữa, khi bà S khởi kiện ly hôn tại Tòa án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông S1 không có mặt tại Toà án và không có bản khai gửi Tòa án. Sau khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến phiên tòa nhưng ông S1 vẫn vắng mặt. Điều này thể hiện ông S1 không quan tâm, không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình.
Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà S và ông S1 đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Bùi Thị Thảo S được ly hôn với ông Trần Bình S1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà Bùi Thị Thảo S xác định vợ chồng có 02 con chung là Bùi Trần Hà U, sinh ngày 29/10/2016 và Bùi Trần Hà U1, sinh ngày 11/02/2020. Ly hôn, bà S yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông S1 cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung của bà S là chính đáng. Hiện nay bà S đang làm nhân viên Sale thị trường, mức lương trung bình là 12 triệu đồng/tháng, có chỗ ở ổn định. Đồng thời, theo nguyện vọng của cháu Bùi Trần Hà U đã đủ 07 tuổi là được sống chung với mẹ nếu ba mẹ ly hôn. Đối với cháu Bùi Trần Hà U1 hiện nay còn nhỏ, chưa đủ 07 tuổi, là con gái nên cần có bàn tay chăm sóc, yêu thương của người mẹ. Do đó, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Thảo S về việc giao 02 con chung cho bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do bà S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con, bà Bùi Thị Thảo S và ông Trần Bình S1 đều có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Bà Bùi Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị Thảo S phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thảo S đối với ông Trần Bình S1 về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị Thảo S được ly hôn với ông Trần Bình S1 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11/2015 Quyển số 01 ngày 01/10/2015 tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng).
- Về con chung: Giao 02 con chung là Bùi Trần Hà U, sinh ngày 29/10/2016 và Bùi Trần Hà U1, sinh ngày 11/02/2020 cho bà Bùi Thị Thảo S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Ông Trần Bình S1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Bùi Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Thị Thảo S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0000753 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà Bùi Thị Thảo S đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 51b /2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 51b /2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa bà Bùi Thị Thảo S và ông Trần Bình S
