TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51a/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu
Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Ông Tề Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 127/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Như B, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: Tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 23/02/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngô Thị Như B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hoàng V tự nguyện kết hôn vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 36/2023, đăng ký ngày 20/3/2023). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ bà tại địa chỉ K N, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống đến ngày 15 tháng 8 năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông V thường xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn để lo cho gia đình, thường xuyên đi xuyên đêm không về nhà, vợ chồng có lời qua tiếng lại, thậm chí lúc này bà đang mang thai nhưng ông V vẫn sử dụng bạo lực đối với bà, sau đó ông Vũ b về nhà cha mẹ tại phường H, quận C sống từ đó cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng không sống chung, ông V thường xuyên hăm dọa gây ảnh hưởng đến cuộc sống của bà và gia đình bà. Ông V còn thường xuyên đến chỗ làm việc của bà để la hét và quấy rối. Nay bà nhận thấy vợ chồng không thể hòa hợp với nhau trong mọi vấn đề, không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V.
Về con chung: Bà B xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Linh S, sinh ngày 30/9/2023. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà B xác nhận không có.
Về nợ chung: Bà B xác nhận không có.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng V: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Hoàng V không có mặt tại Tòa án để tham gia hòa giải và không có bản tự khai gửi Tòa án. Sau khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến phiên tòa nhưng ông Nguyễn Hoàng V vẫn vắng mặt không có lý do.
* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung của bà Ngô Thị Như B.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Ngô Thị Như B được ly hôn ông Nguyễn Hoàng V.
+ Về con chung: Giao con Nguyễn Linh S, sinh ngày 30/9/2023 cho bà Ngô Thị Như B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Hoàng V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Thị Như B xác nhận không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Ngô Thị Như B phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bà Ngô Thị Như B khởi kiện về việc ly hôn và nuôi con chung đối với ông Nguyễn Hoàng V, có địa chỉ cư trú tại tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[1.2] Bị đơn ông Nguyễn Hoàng V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hoàng V.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Như B và ông Nguyễn Hoàng V tự nguyện kết hôn vào tháng 3 năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, hôn nhân giữa bà Ngô Thị Như B và ông Nguyễn Hoàng V là hợp pháp. Xét thấy: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến tháng 8 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà B, nguyên nhân là do ông V thường xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn để lo cho gia đình, thường xuyên đi xuyên đêm không về nhà, vợ chồng có lời qua tiếng lại, thậm chí lúc này bà đang mang thai nhưng ông V vẫn sử dụng bạo lực đối với bà, sau đó ông Vũ b về nhà cha mẹ tại phường H, quận C sống từ đó cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng không sống chung ông V còn thường xuyên hăm dọa, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của bà B và gia đình bà. Nay bà B nhận thấy bà không còn tình cảm ới ông V, vợ chồng không chung sống với nhau được nên bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông V. Xét thấy bà B và ông V không còn sống chung với nhau được một năm, ông Vũ h sống tại nhà cha mẹ của ông tại quận C còn bà B sống tại nhà cha mẹ của bà ở quận L, không ai quan tâm đến ai. Hơn nữa, khi bà B khởi kiện ly hôn tại Tòa án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông V không có mặt tại Tòa án và không có bản khai gửi Tòa án. Sau khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến phiên tòa nhưng ông V vẫn vắng mặt. Điều này thể hiện ông V không quan tâm, không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình.
Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Ngô Thị Như B và ông Nguyễn Hoàng V đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Ngô Thị Như B được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà B xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Linh S, sinh ngày 30/9/2023. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: Hiện nay bà B là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Linh S; bà B có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định; tính đến ngày xét xử, cháu S dưới 36 tháng tuổi. Do vậy, giao con chung cho bà B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do bà B không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Ngô Thị Như B xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Bà Ngô Thị Như B xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Ngô Thị Như B phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Như B đối với ông Nguyễn Hoàng V về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Ngô Thị Như B được ly hôn ông Nguyễn Hoàng V (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 36/2023, đăng ký ngày 20/3/2023).
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Linh S, sinh ngày 30/9/2023 cho bà Ngô Thị Như B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Hoàng V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Ngô Thị Như B xác nhận không có.
- Về nợ chung: Bà Ngô Thị Như B xác nhận không có.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị Như B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0000696 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà Ngô Thị Như B đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 51a/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 51a/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung giữa bà Ngô Thị Như B và ông Nguyễn Hoàng V
