|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 519/2024/DS-ST Ngày: 24 - 9 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Võ Hoàng Nghiệp.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 308/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 700/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 983/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH M; địa chỉ: Lầu E, khối E, Tòa nhà Cộng Hòa G, số B C, phường A, quận T, TP ..
Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH M: Bà Hà Phương Hồng T; chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hà Phương Hồng T: Ông Nguyễn Lê T1, sinh năm 2000; địa chỉ: Số B, ấp L, xã L, huyện C, TP ..
Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Ông Nguyễn Lê T1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Tuấn A vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Nguyễn Tuấn A có ký Hợp đồng tín dụng với Công ty T3 (được chuyển đổi từ Công ty T3) và Công ty TNHH M đã mua khoản nợ từ Công ty Tài chính. Khoản nợ của ông Tuấn A cụ thể như sau: Ngày giải ngân: 20/07/2020; số tiền vay: 12.259.000 đồng; lãi suất vay: 39 %/ năm; thời hạn vay: 12 tháng; số tiền vốn và lãi đã thanh toán: 12.012.048 đồng; ngày thanh toán cuối cùng: 11/3/2023; ngày mua nợ: 29/7/2021. Dư nợ còn lại: Nợ gốc: 2.001.128 đồng, nợ lãi: 2.016.926 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Tuấ A1 đã ký hợp đồng thế chấp nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay. Tài sản thế chấp là xe máy nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 67G1-705.72, số khung C640AY243918.
Từ ngày quá hạn đến nay, Công ty TNHH M đã nhiều lần áp dụng các biện pháp cần thiết để đôn đốc thu hồi nợ nhưng ông Tuấn A vẫn không thực hiện việc thanh toán. Do đó, Công ty TNHH M yêu cầu ông Tuấn A phải hoàn trả số tiền nợ gốc 2.001.128 đồng. Trường hợp ông Tuấn A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Công ty M yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe gắn máy nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 67G1-705.72, số khung C640AY243918 mang tên Nguyễn Tuấn A để thu hồi khoản vay.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Tuấn A vắng mặt không rõ lý do. Ông Tuấn A cũng không giao nộp văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Tòa án ban hành Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ số: 1143/2024/TB-TA ngày 12/8/2024 để các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Công ty TNHH M có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
Tại phiên tòa, do các đương sự đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Theo Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Công an xã V ngày 01/8/2024, xác định: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 16/5/1999 có nơi thường trú tại địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Theo biên bản xác minh ngày 06/8/2024, đại diện Ban ấp V, xã V, huyện A cho biết: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1999 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Ông Tuấn A hiện đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới trở về địa phương.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
- - Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố Tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M về xử lý tài sản thế chấp. Buộc ông Nguyễn Tuấn A trả cho Công ty TNHH M số tiền nợ gốc: 2.001.128 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về quyền khởi kiện và tư cách tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tuấn A ký hợp đồng vay tiền với Công ty T3. Khoản nợ của ông Tuấn A đã được Công ty TNHH M mua lại từ Công ty T3. Căn cứ Điều 68, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định Công ty TNHH M có quyền khởi kiện và là nguyên đơn trong vụ án, ông Nguyễn Tuấn A là bị đơn.
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH M kiện yêu cầu ông Tuấn A thanh toán khoản nợ vay còn lại theo hợp đồng mà ông Tuấn A đã ký kết với Công ty T3. Xét ông Tuấn A là cá nhân, vay sử dụng vào mục đích tiêu dùng nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản”, là tranh chấp dân sự; bị đơn cư trú tại: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Căn cứ các điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Về việc vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Tuấn A vắng mặt không rõ lý do. Như vậy, ông Tuấn A đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Nguyên đơn Công ty TNHH M có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu: Các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu.
- Về nội dung:
- Về hình thức, nội dung hợp đồng: Hợp đồng vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20200719 - 7905932 giữa ông Nguyễn Thành T2 với Công ty T3 được lập thành văn bản, hình thức vay tín chấp, có biện pháp bảo đảm; ông Tuấn A có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng, nên đảm bảo về mặt hình thức. Nội dung Hợp đồng ghi nhận việc ông Tuấn A nhận vay 12.259.000 đồng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng, lãi suất 39 %/ năm, thời hạn vay: 12 tháng. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, cơ chế điều chỉnh lãi suất, thông tin cá nhân khách hàng và cam kết của các bên. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ.
- Về nội dung tranh chấp:
Theo Công ty TNHH M tính đến ngày 11/3/2023, ông Tuấn A đã thanh toán số tiền 12.012.048 đồng, còn nợ: Nợ gốc: 2.001.128 đồng, nợ lãi: 2.016.926 đồng. Nội dung này Tòa án đã thông báo nhưng ông Tuấn A không có ý kiến. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định số tiền ông Tuấn A còn nợ Công ty TNHH M: Nợ gốc: 2.001.128 đồng, nợ lãi: 2.016.926 đồng. Đến nay, ông Tuấn A chưa thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi suất theo thỏa thuận là vi phạm hợp đồng, là có lỗi. Tuy nhiên Công ty TNHH M chỉ yêu cầu ông Tuấn A trả vốn gốc mà không yêu cầu trả nợ lãi là có lợi cho ông Tuấn A. Do đó, chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH M, buộc ông Tuấn A có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ vốn gốc còn lại là 2.001.128 đồng.
Về yêu cầu duy trì tài sản thế chấp: Công ty TNHH M có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
- Về án phí: Do yêu cầu được chấp nhận nên Công ty TNHH M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức án phí có giá ngạch.
- Về quyền kháng cáo: Công ty TNHH M và ông Nguyễn Tuấn A có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ các điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 68, 92, 186, 207, 217, 227, 228, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M.
- Buộc ông Nguyễn Tuấn A có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH M số tiền 2.001.128 (hai triệu không trăm lẻ một nghìn một trăm hai mươi tám) đồng. Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và Công ty TNHH M có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Tuấn A không thi hành đầy đủ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
- Về án phí: Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Công ty TNHH M số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009721 ngày 22/7/2024.
- Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt các đương sự. Thời hạn kháng cáo của Công ty TNHH M và ông Nguyễn Tuấn A là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Tuân |
Bản án số 519/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
- Số bản án: 519/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Tuấn A có ký Hợp đồng tín dụng với Công ty T3 (được chuyển đổi từ Công ty T3) và Công ty TNHH M đã mua khoản nợ từ Công ty Tài chính. Khoản nợ của ông Tuấn A cụ thể như sau: Ngày giải ngân: 20/07/2020; số tiền vay: 12.259.000 đồng; lãi suất vay: 39 %/ năm; thời hạn vay: 12 tháng; số tiền vốn và lãi đã thanh toán: 12.012.048 đồng; ngày thanh toán cuối cùng: 11/3/2023; ngày mua nợ: 29/7/2021. Dư nợ còn lại: Nợ gốc: 2.001.128 đồng, nợ lãi: 2.016.926 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông Tuấ A1 đã ký hợp đồng thế chấp nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay. Tài sản thế chấp là xe máy nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 67G1-705.72, số khung C640AY243918. Từ ngày quá hạn đến nay, Công ty TNHH M đã nhiều lần áp dụng các biện pháp cần thiết để đôn đốc thu hồi nợ nhưng ông Tuấn A vẫn không thực hiện việc thanh toán. Do đó, Công ty TNHH M yêu cầu ông Tuấn A phải hoàn trả số tiền nợ gốc 2.001.128 đồng. Trường hợp ông Tuấn A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Công ty M yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe gắn máy nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 67G1-705.72, số khung C640AY243918 mang tên Nguyễn Tuấn A để thu hồi khoản vay.
