|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 519/2024/DS-PT Ngày 06-9-2024 V/v Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm
Các Thẩm phán: Ông Hứa Quang Thông;
Ông Nguyễn Tuấn Anh;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2024/TLPT-DS ngày 12/7/2024, về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 486/2024/QĐ-PT ngày 25/7/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Lê Kim H, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số I, KDC K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Số E, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Trần Thị Thanh N, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số D, TDC K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Số B, L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Võ Thị T2 – Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số B, L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: bà Trần Thị Thanh N là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn chị Lê Kim H và Người đại diện hợp pháp ông Huỳnh Thanh T trình bày:
Vào năm 2018, 2019 do mối quan hệ bạn bè thân thiết và cùng làm chung cơ quan nên chị H có cho chị Trần Thị Thanh N vay tiền trong các lần cụ thể như sau:
Ngày 05/01/2018 số tiền vay 100.000.000 đồng, vay không có lãi, thời hạn vay 01 tháng (từ ngày 05/01/2018 đến ngày 05/02/2018), mục đích vay để mua hàng hoá in. Việc cho vay có lập “giấy mượn nợ và cam kết thanh toán”, ngày 05/01/2018 chị H đã giao tiền xong và chị N có viết và ký tên vào biên nhận. Khi vay để đảm bao việc trả nợ chị N có thế chấp cho chị H 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau đó do có việc gấp cần sử dụng giấy tờ nên chị N đã lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hơn nữa quyền sử dụng đất trên không phải chị N đứng tên mà người khác đứng tên nên chị H cũng không dám giữ nên trả lại. Hiện chị H không còn giữ giấy đất nêu trên.
Ngày 07/6/2018, chị N vay tiếp số tiền 40.000.000 đồng, vay không lãi suất, không xác định thời hạn. Việc cho vay có lập “giấy biên nhận” ngày 07/6/2018, chị H đã giao tiền xong và chị N có viết, ký nhận vào biên nhận.
Ngày 20/5/2019, chị N vay tiếp số tiền 90.000.000 đồng, vay không lãi suất, không xác định thời hạn. Việc cho vay có lập “giấy biên nhận” ngày 20/5/2019, chị H đã giao tiền xong và chị H có viết, ký nhận vào biên nhận.
Đã hết thời hạn và nhiều lần yêu cầu trả nợ vay nhưng chị N không trả với lý do gặp khó khăn trong kinh doanh và nhiều lý do khác.
Nay chị Lê Kim H yêu cầu buộc chị Trần Thị Thanh N trả nợ vay 03 lần với số tiền gốc là 230.000.000 đồng, lãi không yêu cầu.
Chị N có đưa cho chị H số tiền tại nhà chị N số tiền 200.000.000 đồng là số tiền để đặt cọc mua 02 bộ hồ sơ đấu giá thi hành án. Đây không phải số tiền trong 03 biên nhận vay mà chị H khởi kiện.
- Bị đơn chị Trần Thị Thanh N trình bày:
Chị Trần Thị Thanh N không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim H.
Chị N thừa nhận có vay và ký tên giấy mượn nợ và cam kết thanh toán ngày 05/01/2018; biên nhận ngày 07/6/2018; biên nhận ngày 20/5/2019 là do chị N viết, ghi họ tên và ký tên.
Tuy nhiên, chị N khẳng định chị đã thanh toán một lần xong số tiền nợ cho chị H rồi nhưng vì sự tin tưởng cả hai có mối quan hệ bạn bè thân thiết và cùng làm chung trong cơ quan nên chị N không lấy lại các biên nhận nợ và tin tưởng chị H sẽ xé hết các biên nhận nợ của chị N đã viết, ký tên. Và hơn nữa cũng tin rằng chị H là người từng giúp đỡ chị N rất nhiều nên tuyệt đối tin tưởng chị H.
Nguồn tiền chị N trả do khi nhận được khoản tiền từ thi hành án vào ngày 21/10/2021 thì đã trả đầy đủ cho chị H liền sau đó trả bằng tiền mặt một lần tại phòng làm việc của chị N, không ai chứng kiến, không làm giấy tờ.
Do đó chị H trình bày lý do trong đơn khởi kiện cho rằng chị N gặp khó khăn về kinh doanh không chịu thanh toán tiền vay là không đúng sự thật và đồng thời cho rằng đã nhiều lần gặp mặt yêu cầu chị N trả tiền nhưng không thực hiện là không đúng vì chị N đã nhiều lần muốn gặp trực tiếp chị H kể từ khi hay tin chị Hoàng k đòi tiền đến khi hoà giải tại Toà án nhưng chị H đều tránh mặt, không đồng ý đối chất với chị N mà chỉ uỷ quyền cho người khác chỉ căn cứ vào các biên nhận để kiện chị N là chưa đúng bản chất của sự việc. Người uỷ quyền của chị H không nắm được nội dung là chị N đã thanh toán được số tiền xong mà chỉ căn cứ theo các biên nhận.
Hơn nữa những nội dung trên đã được ông Dương Thành S, ông Trần Văn Bé B, ông Lê Văn L, ông Đỗ Thành L1 cho rằng biết sự việc thể hiện trong văn bản yêu cầu thu thập chứng cứ mà chị N cung cấp cho Toà án.
Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung quyết định:
Căn cứ vào các Điều 155, Điều 357, 429, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Kim H.
Buộc bị đơn Trần Thị Thanh N có nghĩa vụ trả cho Lê Kim H số tiền vốn vay còn nợ là 230.000.000 đồng (hai trăm, ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Về án phí, tạm ứng án phí:
Về án phí, tạm ứng án phí:
Trần Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.500.000 đồng (mười một triệu, năm trăm nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho Lê Kim H 5.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001293 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm chị N kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm với nội dung yêu cầu công nhận số tiền chị H có thừa nhận chị N có trả tiền cho chị H và yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với Giấy mượn nợ ngày 05/01/2018 đối với số tiền 200.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt ông T, chị T1, Luật sư T2. Các đương sự có mặt và khẳng định đã xuất trình thêm đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án.
Luật sư T2 trình bày: Chị H thừa nhận có việc chị H nhận số tiền 200.000.000 đồng sau khi xác lập 03 biên nhận. Tuy thừa nhận có nhận tiền từ cơ quan thi hành án nhưng cho rằng không có liên quan số tiền của 03 biên nhận. Nhưng chị N không có khoảng nợ nào là 200.000.000 đồng do đó chứng minh là trả cho số tiền theo biên nhận nợ 230.000.000 đồng. Theo văn bản xác nhận của Huyện ủy huyện L xác nhận trên từ hồ sơ bán đấu giá. Do đó đề nghị chấp nhận số tiền 200.000.000 đồng mà chị N đã trả cho chị H.
Đề nghị áp dụng thời hiệu của Điều 357 Bộ luật dân sự vì không có thỏa thuận kéo dài thời hiệu đối với biên nhận số tiền 100.000.000 đồng ngày 05/01/2018. Nếu không áp dụng thời hiệu thì chị N chỉ trả số tiền 30.000.000 đồng. Nếu áp dụng thời hiệu thì chị N không trả số tiền này. Nên yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N.
Chị T1 trình bày: Thống nhất phần trình bày của Luật sư T2, không có trình bày gì thêm.
Ông T trình bày: Do chị N, chị Hoàng thân t với nhau nên không có việc yêu cầu trả nợ đúng hạn. Chị H không có thừa nhận số tiền 200.000.000 đồng trả nợ từ chị N. Việc cơ quan thi hành án không có liên quan gì cả. Không có lời thừa nhận nào từ chị H, chị N việc nhận tiền khấu trừ vào số nợ theo biên nhận. Về thời hiệu thì do hợp đồng vay này không có lãi suất, chỉ yêu cầu trả số tiền vốn vay từ đòi lại tài sản nên không áp dụng thời hiệu. Chị H yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp các đương sự thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án xét yêu cầu kháng cáo của chị N là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của chị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thành phần những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng thì các đương sự thống nhất không có ai có yêu cầu bổ sung hay khiếu nại.
-
Về nội dung tranh chấp qua thu thập chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định như sau:
Về yêu cầu nguyên đơn chị N yêu cầu phải có mặt bị đơn là chị H để tiếp xúc, đối chất với chị H làm rõ nội dung việc chị Hoàng k. Yêu cầu này Toà án cũng đã mời chị H để thực hiện đối chất. Tuy nhiên, chị H có văn bản, lời khai không đồng ý đối chất, yêu cầu vắng mặt vì chị H đã uỷ quyền cho ông Huỳnh Thanh T theo đúng quy định. Do đó yêu cầu này của chị N thì không được chấp nhận.
Đối với bị đơn Trần Thị Thanh N có yêu cầu xem xét thời hiệu đối với “giấy mượn nợ ngày 05/01/2018”, số tiền 100.000.000 đồng. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn đều thừa nhận tất cả các biên nhận mà nguyên đơn cung cấp; đều thừa nhận do bị đơn tự viết, ghi họ tên trong đó có “giấy mượn nợ ngày 05/01/2018", có thời hạn vay là 01 tháng (từ ngày 05/01/2018 đến ngày 05/02/2018). Bị đơn thừa nhận có nợ nguyên đơn số tiền này nên bắt đầu lại thời hiệu theo quy định tại Điều 157 Bộ luật dân sự.
Mặt khác, nguyên đơn chỉ có yêu cầu đòi lại nợ gốc, không tính lãi nên phù hợp theo quy định pháp luật.
-
Xét yêu cầu khởi kiện của chị H yêu cầu chị N trả nợ số tiền vốn vay tổng cộng 230.000.000 đồng, xét thấy:
Theo lời trình bày của nguyên đơn chị H xác định vào các ngày 05/01/2018; 07/6/2018; 20/5/2019 chị H có cho chị N vay nhiều lần số tiền vay tổng cộng là 230.000.000 đồng, Việc cho vay có lập “giấy mượn nợ và cam kết thanh toán” và “giấy biên nhận”. Đối với những biên nhận, tờ cam kết này thì chị N thừa nhận có vay các số tiền như nguyên đơn khởi kiện do chị N viết, ký tên và xác nhận những biên nhận, tờ cam kết này là thật.
Do đó, đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tuy nhiên, chị N không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H và khai nại đã thanh toán xong. Chị Trần Thị Thanh N khẳng định chị đã thanh toán xong một lần số tiền nợ cho chị Lê Kim H rồi nhưng vì sự tin tưởng cả hai có mối quan hệ bạn bè thân thiết và cùng làm chung cơ quan nên chị N không lấy lại các biên nhận nợ và tin tưởng chị H sẽ xé hết các biên nhận nợ của chị N.
Chị N cho rằng sau khi nhận số tiền 745.200.000 đồng ngày 21/10/2021 tại Chi cục Thi hành án huyện Lai Vung chi trả thi hành án thì sau đó tại phòng làm việc của chị N thì chị N đã trả một lần số tiền trong 03 biên nhận đầy đủ là 230.000.000 đồng xong cho chị H, thời điểm trả tiền không ai chứng kiến, không làm giấy tờ. Tuy nhiên, lời trình bày này không được chị H thừa nhận.
Chứng cứ để chứng minh cho lời khai này của chị N là: chị N yêu cầu xác minh 04 người làm chứng cho chị N là ông Dương Thành S, ông Đỗ Thành L1, ông Trần Văn Bé B, ông Lê Văn L. Đồng thời cung cấp những đoạn tin nhắn zalo, ghi âm đối thoại giữa chị H và chị N.
Xét thấy, những người chị N yêu cầu là người làm chứng qua xác minh nội dung thì đều cho rằng không biết việc vay tiền cụ thể của chị N đối với chị H trong 03 biên nhận; cũng như không chứng kiến, không biết nội dung vay, số tiền cụ thể của 03 biên nhận nêu trên.
Đối với những tin nhắn zalo, đoạn ghi âm mà chị N cung cấp cũng không thể hiện cụ thể nội dung: chị N đã trả số tiền trên cho chị H.
Xét thấy chị N không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Đồng thời, không có chứng cứ chứng minh việc trả tiền của 03 biên nhận nệu trên. Vì chị N thừa nhận có vay số tiền 230.000.000 đồng của chị H nên phải có nghĩa vụ trả nợ số tiền trên là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 463, Điều 466 và Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận yêu cầu của chị H là có cơ sở.
- Chị H không yêu cầu tiền lãi nên không xem xét giải quyết.
-
Đối với yêu cầu đề nghị xác minh thêm đối với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung để chứng minh việc chị N đã trả tiền cho chị H xong trong 03 biên nhận nêu trên.
Xét thấy, Toà án đã thu thập đầy đủ chứng cứ là khoản tiền chị N nhận tại Chi cục Thi hành án huyện Lai Vung, đã yêu cầu chị N cung cấp chứng cứ để chứng minh cho việc đã trả tiền xong trong 03 biên nhận mà chị N khai nại. Do đó, đề nghị thu thập thêm chứng cứ đối với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung là không cần thiết.
-
Xét yêu cầu khởi kiện của chị H yêu cầu chị N trả nợ số tiền vốn vay tổng cộng 230.000.000 đồng, xét thấy:
- Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Đồng thời căn cứ vào đây quyết định các khoản chi phí, án phí dân sự sơ thẩm. Sau khi xét xử sơ thẩm chị N kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa người đại diện của chị N và Luật sư của chị N trình bày yêu cầu kháng cáo yêu cầu nếu áp dụng thời hiệu đối với biên nhận ngày 05/01/2018 số tiền 100.000.000 đồng và việc chị H thừa nhận số tiền 200.000.000 đồng thì không buộc chị N phải trả số tiền trên cho chị H nữa. Nếu không áp dụng thời hiệu thì chị N chỉ phải trả cho chị H số tiền 30.000.000 đồng.
- Qua các chứng cứ có trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Chị N không cung cấp chứng cứ tài liệu gì mới. Đối với những nội dung yêu cầu kháng cáo chị N nêu ra Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy chị N cũng đã trình bày và yêu cầu đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết đúng quy định pháp luật. Việc chị N kháng cáo yêu cầu theo lời trình bày nhưng phía chị H không thừa nhận những lời trình bày này. Xét lời trình bày của chị N có mâu thuẫn với lời thừa nhận của chị H; chị N không có căn cứ chứng minh việc trả số tiền phù hợp với số tiền 230.000.000 đồng theo 03 biên nhận chị H yêu cầu. Do chị N không có chứng cứ gì chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của chị N phù hợp pháp luật nên chấp nhận. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên chị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự ;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Trần Thị Thanh N.
- - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Kim H.
Buộc bị đơn Trần Thị Thanh N có nghĩa vụ trả cho Lê Kim H số tiền vốn vay còn nợ là 230.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí, chí phí dân sự sơ thẩm:
- - Chị Trần Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.500.000 đồng.
- - Hoàn trả lại cho chị Lê Kim H 5.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001293 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
-
Án phí dân sự phúc thẩm:
- - Chị Trần Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001704 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung. Chị N không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 519/2024/DS-PT ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 519/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Lê Kim Hoàng BĐ: Trần Thị Thanh Nhàn
