TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 519/2025/DS-ST Ngày: 24/6/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Đăng Hà
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Lê Thị Thanh Dung
Bà Nguyễn Thị Huỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án của Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 943/2024/TLST-DS ngày 07/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2025/QĐXXST-DS ngày 13/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/QÐST-DS ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Trụ sở: T, A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L. Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Hưng Trung T, ông Nguyễn Chí T1. Quyết định uỷ quyền số 2708/QĐ-BIDV ngày 16/9/2024
Địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
(có mặt)
- Bị đơn:
Ông Trần Anh T2, sinh năm 1985
Thường trú: 3 P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
(vắng mặt không có lý do)
Bà Trần Thị Kim T3, sinh năm 1997
Thường trú: 256/TT xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre
Tạm trú: 448/91 Phan Huy Í, khu phố E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
(có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Đ (sau đây gọi là Ngân hàng) và ông Trần Anh T2, bà Trần Thị Kim T3 ký kết các Hợp đồng tín dụng với nội dung cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017 ông T2, bà T3 vay số tiền 3.000.000.000 đồng, mục đích thanh toán tiền mua nhà 108/2/12 Đường số A, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn cho vay 240 tháng, lãi suất trong hạn 9,2%/năm trong 24 tháng đầu tiên và sau đó có điều chỉnh, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, ông T2, bà T3 vay số tiền 4.000.000.000 đồng, mục đích thanh toán tiền mua nhà 479/36 Quốc lộ A, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn cho vay 240 tháng, lãi suất trong hạn 9%/năm trong 24 tháng đầu tiên và sau đó có điều chỉnh, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019, bà T3 vay số tiền 1.000.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng của cá nhân và gia đình, thời hạn cho vay 12 tháng, lãi suất trong hạn 9,5%/năm và có điều chỉnh, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay từ các hợp đồng nêu trên, ông T2 và Ngân hàng ký các giao dịch bảo đảm sau:
- Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 01/2017/9760286/HĐBĐ ngày 18/5/2017 được Văn phòng C chứng nhận số 003827 ngày 18/5/2017, Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba được Văn phòng C1 (trước đây là Văn phòng C) chứng nhận số 020289 ngày 22/10/2019 và Đơn yêu cầu Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T chứng nhận ngày 19/5/2017. Tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn nhà tại địa chỉ số C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số: 6694/2003 do UBND Quận T cấp ngày 26/08/2003.
- Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/9760286/HĐBĐ ngày 26/02/2019 được Văn phòng C1 chứng nhận số 002561 ngày 26/02/2019. Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận G chứng nhận ngày 27/02/2019. Tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn nhà tại địa chỉ số C Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ E Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN : CH01691 do UBND quận G cấp ngày 18/4/2012.
Trong quá trình vay ông T2, bà T3 đã không thực hiện trả nợ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng vay. Do ông T2, bà T3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu ông T2, bà T3 trả tổng số tiền 11.437.412.357 đồng (Mười một tỷ bốn trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm mười hai nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng) trong đó tiền nợ gốc là 7.019.276.065 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 1.361.910.047 đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 3.056.226.245 đồng tạm tính đến ngày 24/6/2025.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T2, bà T3 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019.
Nếu ông T2, bà T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi các tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì ông T2, bà T3 còn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
Sau khi ông T2, bà T3 thanh toán xong nợ, Ngân hàng trả lại cho ông T2 bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số: 6694/2003 do UBND Quận T cấp ngày 26/08/2003, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN : CH01691 do UBND quận G cấp ngày 18/4/2012, thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất.
* Bị đơn ông Trần Anh T2 trình bày tại bản tự khai:
Ông T2 xác nhận ông T2, bà T3 có ký kết các Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019. Do gặp khó khăn về tài chính, ông T2 chưa thanh toán tiền cho Ngân hàng.
* Bị đơn bà Trần Thị Kim T3 trình bày tại bản tự khai:
Bà T3 xác nhận ông T2, bà T3 có ký kết các Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019. Bà T3 xác nhận chưa thanh toán tiền cho Ngân hàng. Các tài sản thế chấp là tài sản thuộc sở hữu riêng của ông T2, có trước thời kỳ hôn nhân. Trường hợp Ngân hàng phát mãi các tài sản này để thu hồi nợ thì bà T3 không có ý kiến gì.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong vụ án: Các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều 85, Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt của bị đơn:
Theo xác minh Công an P, quận P cho biết ông T2 có đăng ký thường trú tại địa chỉ 3 P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T2 hiện tạm trú tại 616/61/53 L, khu phố H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên Công an P, quận G xác nhận ông T2 không cư trú tại địa chỉ 616/61/53 L, khu phố H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy nơi cư trú cuối cùng của ông T2 được xác định tại địa chỉ thường trú 3 P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Trần Thị Kim T3 có đăng ký thường trú tại 256/TT ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, tạm trú tại 448/91 P, khu phố E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo xác nhận của Công an P1, quận G.
Theo Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông T2 và tống đạt hợp lệ đối với bà T3 triệu tập ông, bà để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên, ông T2 vắng mặt không có lý do, bà T3 có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng quyết định xét xử vắng mặt các ông T2, bà T3.
[3] Về nội dung:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, ông T2 bà T3 không cung cấp tài liệu, chứng cứ mặc dù Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
[3.1] Xét các Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019 được ký kết giữa đại diện hợp pháp của Ngân hàng và ông T2, bà T3 phù hợp với quy định của điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N nên có hiệu lực.
Tại các Bảng kê rút vốn và bản tự khai, ông T2, bà T3 đều xác nhận có ký và rút vốn vay theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng nêu trên. Hiện ông T2, bà T3 còn nợ tiền gốc và lãi.
Theo thỏa thuận của các Hợp đồng tín dụng lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh. Từ khi giải ngân tiền vay cho đến nay ngân hàng có điều chỉnh mức lãi suất vay theo các Thông báo số 16/9760286/TB-KHCN ngày 01/3/2021, số 31/9760286/TB-KHCN ngày 30/6/2021, số 60/9760286/TB-KHCN ngày 30/12/2021, số 39/9760286/TB-KHCN ngày 30/6/2022, số 28/9760286/TB-KHCN ngày 24/5/2019, số 35/9760286/TB-KHCN ngày 30/6/2019, số 90/9760286/TB-KHCN ngày 31/12/2019, 09/9760286/TB-KHCN ngày 30/6/2020, số 36/9760286/TB-KHCN ngày 30/12/2020, số 45/9760286/TB-kHCN ngày 30/6/2021, số 105/9760286/TB-KHCN ngày 31/12/2021, số 19/9760286/TB-KHCN ngày 30/6/2022. Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N việc thỏa thuận lãi suất này phù hợp với quy định pháp luật.
Theo trình bày của Ngân hàng, cả ba hợp đồng tín dụng nêu trên ông T2, bà T3 không thanh toán đúng hạn từ kỳ thanh toán nợ gốc đầu tiên. Về tiền nợ lãi, ông T2, bà T3 thanh toán đến sau ngày 01/7/2020 thì ngưng không thanh toán nữa. Tuy nhiên sau đó ông T2, bà T3 có khắc phục là trả tiền nợ gốc nhưng không đúng theo thời hạn thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do đó Ngân hàng chỉ chuyển nợ quá hạn đối với khoản nợ gốc đã đến kỳ thanh toán. Đến năm 2022 ông T2, bà T3 không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ gốc, nợ lãi nào nên Ngân hàng chuyển toàn bộ nợ gốc còn lại thành nợ quá hạn, cụ thể: Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017 chuyển toàn bộ nợ gốc quá hạn ngày 31/10/2022, Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019 chuyển toàn bộ nợ gốc quá hạn ngày 25/10/2022, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019 chuyển toàn bộ nợ gốc quá hạn ngày 02/7/2020.
Hơn nữa mặc dù cả Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019 các bên có thỏa thuận về lãi chậm trả đối với nợ lãi chậm trả. Nhưng để tạo điều kiện trả nợ cho bị đơn Ngân hàng không tính loại lãi này cho ông T2, bà T3. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và cách tính lãi này có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
Theo Điều 9 của bản Điều khoản và điều kiện vay của Ngân hàng, Điều 11 của bản Điều kiện, điều khoản cấp và sử dụng hạn mức thấu chi của Ngân hàng và căn cứ Điều 20, Điều 21 của của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N ông T2, bà T3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ là đúng quy định.
Căn cứ khoản 2 Điều 8 và điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền 11.437.412.357 đồng (Mười một tỷ bốn trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm mười hai nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng) tạm tính đến ngày 24/6/2025 phát sinh từ các hợp đồng tín dụng cụ thể:
- Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, nợ gốc 2.382.056.065 đồng, nợ lãi trong hạn 535.712.685 đồng, nợ lãi quá hạn 927.372.231 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, nợ gốc 3.696.620.000 đồng, nợ lãi trong hạn 826.197.362 đồng, nợ lãi quá hạn 1.460.879.737 đồng
- Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019, nợ gốc 940.600.000 đồng, nợ lãi quá hạn 667.974.277 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T2, bà T3 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019.
[3.2] Xét Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 01/2017/9760286/HĐBĐ ngày 18/5/2017 được Văn phòng C chứng nhận số 003827 ngày 18/5/2017, Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba được Văn phòng C1 (trước đây là Văn phòng C) chứng nhận số 020289 ngày 22/10/2019 và Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/9760286/HĐBĐ ngày 26/02/2019 được Văn phòng C1 chứng nhận số 002561 ngày 26/02/2019.
Nội dung hợp đồng thế chấp, ông T2 thế chấp các tài sản là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn nhà tại địa chỉ số C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) và Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn nhà tại địa chỉ số C Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ E Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) để đảm bảo tất cả nghĩa vụ trả nợ của ông T2, bà T3 tại các hợp đồng tín dụng được ký kết giữa ông T2, bà T3 và Ngân hàng.
Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm đã đúng quy định tại các Điều 317, Điều 318 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 179 của Luật Đất đai; Điều 4, Điều 9, Điều 10 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Điều 1 của Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 3 của Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010, Điều 4, Điều 9 của Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm. Do đó hợp đồng thế chấp này có hiệu lực pháp luật.
Theo kết quả xác minh Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai quận T, nhà, đất tại địa chỉ 3 T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số: 6694/2003 do UBND Quận T cấp ngày 26/08/2003 do ông T2 đứng tên. Và theo trả lời của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai quận G, 3 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN : CH01691 do UBND quận G cấp ngày 18/4/2012 cũng do ông T2 đứng tên. Hiện các tài sản trên được thế chấp cho Ngân hàng TMCP Đ.
Ngân hàng yêu cầu trường hợp ông T2, bà T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì ông T2, bà T3 còn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
Sau khi ông T2, bà T3 thanh toán xong nợ, Ngân hàng trả lại cho ông T2 bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số: 6694/2003 do UBND Quận T cấp ngày 26/08/2003, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN : CH01691 do UBND quận G cấp ngày 18/4/2012, thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất.
Căn cứ Điều 299, Điều 301, Điều 307, Điều 320, Điều 322, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện này.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Căn cứ khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, ông T2, bà T3 chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp nêu trên là 10.000.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông T2, bà T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 119.437.412 đồng.
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 58.351.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0028956 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 299, Điều 301, Điều 307, Điều 320, Điều 322, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 179 của Luật Đất đai;
- Căn cứ Điều 4, Điều 9, Điều 10, Điều 12 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Điều 1 của Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ.
- Căn cứ Điều 3 của Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010, Điều 4, Điều 9 của Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm;
- Căn cứ Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
- Căn cứ khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014),
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ.
Ông Trần Anh T2 và bà Trần Thị Kim T3 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền là 11.437.412.357 đồng (Mười một tỷ bốn trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm mười hai nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng) tạm tính đến ngày 24/6/2025 phát sinh từ những hợp đồng tín dụng cụ thể:
- Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, nợ gốc 2.382.056.065 đồng, nợ lãi trong hạn 535.712.685 đồng, nợ lãi quá hạn 927.372.231 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, nợ gốc 3.696.620.000 đồng, nợ lãi trong hạn 826.197.362 đồng, nợ lãi quá hạn 1.460.879.737 đồng
- Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019, nợ gốc 940.600.000 đồng, nợ lãi quá hạn 667.974.277 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T2, bà T3 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9760286/HĐTD ngày 18/5/2017, Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9760286/HĐTD ngày 26/02/2019, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2019/11754007/HĐTD ngày 22/10/2019.
Sau khi ông T2, bà T3 thanh toán xong nợ, Ngân hàng TMCP Đ trả lại cho ông T2 bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp gồm: Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số: 6694/2003 do UBND Quận T cấp ngày 26/08/2003, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN : CH01691 do UBND quận G cấp ngày 18/4/2012, thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất.
Trường hợp ông Trần Anh T2 và bà Trần Thị Kim T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là:
- Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn nhà tại địa chỉ số C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số: 6694/2003 do UBND Quận T cấp ngày 26/08/2003.
- Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn nhà tại địa chỉ số C Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ E Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN : CH01691 do UBND quận G cấp ngày 18/4/2012.
Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì ông Trần Anh T2 và bà Trần Thị Kim T3 còn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Ông Trần Anh T2 và bà Trần Thị Kim T3 chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp nêu trên là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Anh T2 và bà Trần Thị Kim T3 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 119.437.412 đồng (Một trăm mười chín triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm mười hai đồng).
Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 58.351.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0028956 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngân hàng TMCP Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Anh T2 và bà Trần Thị Kim T3 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND TP HCM; - VKSND TP HCM; - VKSND Q.PN; - Chi cục THA DS Q.PN; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Đăng Hà |
Bản án số 519/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 519/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
