Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 519/2024/HC-PT

Ngày: 11 - 6 - 2024

V/v khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1001/2023/TLPT-HC ngày 06 tháng 12 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 25/2023/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2857/2024/QĐPT-HC ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện:

1.1. Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1970; nơi cư trú: A ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).

1.2. Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1965; nơi cư trú: A ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn S – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1945; nơi cư trú: ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Nguyễn Quang G, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số B, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Quang C: Luật sư Phan Thị Hồng H1; Nơi cư trú: 9 N, khu phố E, phường A, Thành phố B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

3.2. Bà Mai Thị R, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số A ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).

4. Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản đối thoại cũng như tại phiên toà, người người khởi kiện – bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày:

Vào năm 1940 bà T cùng gia đình gồm bà cố bà T là bà Nguyễn Thị T1 (mất năm 1968), bà ngoại bà T là bà Nguyễn Thị H2 (mất năm 1983), D của bà T là bà Nguyễn Thị P đến khai hoang, cất nhà sinh sống trên phần đất hơn 1.500m² tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. Từ đó đến nay chỉ duy nhất gia đình bà T cất nhà sinh sống trên đất và được cơ quan có thẩm quyền xã Q hướng dẫn cấp sổ hộ khẩu cho gia đình số 197 ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, gia đình chưa thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khoảng tháng 03/2018, ông Nguyễn Quang C tự ý phá hoại tài sản và dùng dao, cưa máy, xe đào đốn hạ, chặt phá hết cây ăn trái, gây thiệt hại cho gia đình bà T hơn 120.000.000 đồng. Đồng thời ông C tuyên bố là chủ sở hữu hợp pháp, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất mà gia đình bà T đang sinh sống. Biết được thông tin này, bà T nộp đơn yêu cầu UBND xã Q giải quyết, yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Vào ngày 08/10/2021 UBND xã Q, huyện C đã tổ chức hòa giải, trong buổi hòa giải bà T mới biết được phần đất mà gia đình bà T đang quản lý sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 225916 cấp ngày 05/04/2013 diện tích 5635.8m², thửa 21, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre, trong đó của gia đình bà T sử dụng khoảng 3000m². Sau buổi hòa giải không thành tại UBND xã, ngày 08/10/2021 bà T nộp đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện C đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện đã cấp cho gia đình ông C, đồng thời đề nghị hướng dẫn cho gia đình bà T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không được UBND huyện giải quyết.

Việc UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cầu l không có cơ sở, hoàn toàn trái với quy định của pháp luật. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu:

  • + Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ phát hành B561345, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 410218 00778 do UBND huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho bà Lê Thị P1 ngày 11/5/1993 đối với diện tích đất 6920m² thửa 300, 301, 302, 303, tờ bản đồ 2, tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  • + Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ phát hành BM225916, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 004952 do UBND huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 05/4/2013 đối với diện tích đất 5635.8m² thửa 21, diện tích tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản đối thoại cũng như tại phiên toà, người khởi kiện – ông Nguyễn Hữu H trình bày:

Năm 1940 ông bà ngoại ông H là ông Phạm Văn C1, bà Cao Thị T2 khai hoang và cất nhà làm ăn sinh sống trên phần diện tích đất khoảng 3000m² nay là thửa 21 tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. Sau khi ông C1, bà T2 mất cha mẹ của ông H là ông Nguyễn Tấn L và bà Phạm Thị L1 vẫn tiếp tục canh tác quản lý sử dụng đất. Ông H và các em của ông H được sinh ra và sinh sống trên đất. Sau khi ba mẹ ông H mất thì ông H là người tiếp tục quản lý sử dụng đất, trong suốt quá trình sử dụng đất không có phát sinh bất kỳ tranh chấp nào. Vào ngày 08/9/2022 ông Nguyễn Quang C làm đơn đòi ông H trả lại đất, với lý do là ông C đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 5635.8m² thửa 21, tờ bản đồ số 19. Việc UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C trong đó có của ông H 3.000m² là không phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ phát hành BM225916, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 004952 do UBND huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 05/4/2013 đối với diện tích đất 5635.8m² thửa 21, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Theo văn bản số 1561/UBND-NC ngày 22/6/2023 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre; Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre – ông Lê Minh X trình bày:

Ngày 11/5/1993 UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị P1 gồm: thửa 300 diện tích 300m²; thửa 301 diện tích 885m²; thửa 302 diện tích 300m²; thửa 303 diện tích 5435m², tổng diện tích đất cấp 6920m². Đến ngày 20/3/2013 bà P1 hợp đồng chuyển nhượng cho ông C diện tích thửa mới theo đo đạc tọa độ 21, tờ bản đồ 19, biến động diện tích 5635.8m² UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cầu là đúng quy định về trình tự, thủ tục chuyển nhượng theo quy định pháp luật. UBND huyện C đề nghị Tòa án xác minh về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất để giải quyết vụ án.

* Theo bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang C trình bày:

Đất tranh chấp có nguồn gốc của mẹ ông Cầu là bà P1 (đã chết) cho ông C, sau đó ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông C thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước. Trước đây vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bà T có xin ông C phần đất để ở nhờ, ban đầu là nhà lá, sau đó bà T đã cất nhà tường chiều ngang 5m, dài 10m mà không hỏi ý kiến ông C. Ông C không đồng ý theo yêu cầu của bà T, ông H. Đồng thời ông C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết buộc bà T trả cho ông C phần đất diện tích khoảng 1.600m² thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 25/2023/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, quyết định:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Nguyễn Hữu H:

  • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ phát hành B561345, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 410218 00778 do UBND huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho bà Lê Thị P1 ngày 11/5/1993 đối với diện tích đất 6920m² thửa 300, 301, 302, 303, tờ bản đồ 2, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ phát hành BM225916, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 004952 do UBND huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 05/4/2013 đối với diện tích đất 5635.8m² thửa 21, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 25/9/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị công nhận diện tích đất trên cho ông.

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C đề nghị Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì cho rằng phần đất là của ông C chuyển nhượng hợp pháp từ bà Lê Thị P1, hiện tại ông C đã thế chấp vay tiền Ngân hàng A chi nhánh huyện C, tỉnh Bến tre.

- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án hành chính sơ thẩm, giao về Tòa án sơ thẩm giải quyết lại, nhập với vụ án dân sự mà Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đang thụ lý, giải quyết (giữa nguyên đơn ông Nguyễn Quang C và bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Mai Thị R, ông Nguyễn Hữu H đối với phần đất đang tranh chấp).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, người bị kiện đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157, Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn C2, thấy rằng:

[2.1]. Về quá trình quản lý, sử dụng đất.

Hồ sơ thể hiện:

- Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 004952 do UBND huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 05/4/2013 đối với diện tích đất 5.635.8m² thửa 21, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 410218 00778 do UBND huyện C, tỉnh Bến Tre cấp cho bà Lê Thị P1 ngày 11/5/1993 đối với diện tích đất 6.920m² thửa 300, 301, 302, 303, tờ bản đồ 2, tọa lạc tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. Lý do, người khởi kiện cho rằng phần đất có nguồn gốc do ông bà khai phá và đang quản lý, sử dụng.

- Phía người được cấp GCN QSDĐ ông Nguyễn Quang C thì cho rằng nguồn gốc đất là ông sang nhượng lại của bà Lê Thị P1 theo Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 20/3/2013. Do trước đây, gia đình bà T khó khăn nên có xin cất nhà lá ở nhờ trên phần đất, sau đó sửa lại cất nhà tường nhưng không hỏi ý kiến của ông. Nay ông C yêu cầu thì bà T phải trả lại đất trên.

- Đối với việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất đối với phần đất thửa 21, tờ bản đồ số 19 tại Bản án sơ thẩm nhận định: “Hiện Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đang thụ lý giải quyết bằng vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Nguyễn Quang C và bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Mai Thị R, ông Nguyễn Hữu H”.

[2.2]. Như vậy, trong vụ án này phía ông C có yêu cầu bà T trả lại đất, đây được xem là yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mà phải giải quyết trong vụ án dân sự. Lẽ ra, Tòa án tỉnh Bến Tre phải yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đang thụ lý giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất (giữa nguyên đơn ông Nguyễn Quang C và bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T, bà Mai Thị R, ông Nguyễn Hữu H) phải chuyển hồ sơ lên TAND tỉnh để nhập vào vụ án hành chính này để giải quyết bằng một vụ án dân sự, có xem xét quyết định hành chính cá biệt (02 giấy CNQSD đất là đối tượng hành chính bị khởi kiện trong vụ án này) mới đúng. Nhưng lại thụ lý thành hai vụ án hành chính, dân sự và xử hành chính trước là không đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 34 BLTTDS 2015 và mục II của giải đáp nghiệp vụ số 02/GĐ- TANDTC ngày 19/9/2016 giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự;

Bởi lẽ, phía UBND huyện C cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cầu là trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng, đúng trình tự, quy định pháp luật. Hơn nửa, phần đất hiện tại ông C đang thế chấp vay tiền tại Ngân hàng A chi nhánh huyện C, Bến tre (Hợp đồng tín dụng số 7108-LAV-202102763 ngày 20/5/2021), Tòa sơ thẩm hủy giấy chứng nhận QSD đất của ông C nhưng lại không đưa Ngân hàng tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.

[3] Từ những phân tích trên, thấy rằng Tòa sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; Việc thụ lý, giải quyết yêu cầu của đương sự bằng hai vụ án hành chính và dân sự là xem xét, giải quyết không toàn diện, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy án, nhập vào vụ án dân sự đang thụ lý để giải quyết là có căn cứ.

Quá trình giải quyết lại vụ án, cần rút hồ sơ vụ án dân sự để nhập vào vụ án này để xem xét, giải quyết cùng 01 vụ án.

[4]. Vì hủy án nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 241 của Bộ luật tố tụng hành chính;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 25/2023/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giữa người khởi kiện bà Nguyễn Thị Thùy T, ông Nguyễn Hữu H – bị kiện UBND huyện C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
  2. Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng theo quy định pháp luật và theo hướng nhận định trên.
  3. Giữ lại phần dự nộp án phí sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Cục THADS tỉnh Bến Tre;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, VP, 20b TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 519/2024/HC-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 519/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án hành chính sơ thẩm giữa người khởi kiện bả Nguyễn Thị Thúy T, ông Nguyễn Hữu H – bị kiện UBND huyện C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng theo quy định pháp luật và theo hướng nhận định trên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger